asdasd![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
Tham dự buổi lễ có cô giáo Phạm Phương Liên – Bí thư Chi bộ, Hiệu trưởng nhà trường; thầy giáo Phạm Tùng Lộc – GV Tổng phụ trách Đội cùng toàn thể đội viên phụ trách các chi đội và các em đội viên được xét kết nạp đợt này.
![]()
Mở đầu buổi lễ là nghi lễ chào cờ thiêng liêng. Sau phần nghi lễ, thầy Tổng phụ trách Đội đã đọc quyết định kết nạp đội viên mới, và đại diện các em học sinh khối 3 đã lần lượt bước lên sân khấu để được trao khăn quàng đỏ – biểu tượng thiêng liêng của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Ánh mắt rạng ngời, niềm tự hào hiện rõ trên gương mặt các em khi lần đầu tiên được mang trên vai chiếc khăn đỏ thắm.
![]()
Buổi lễ kết thúc trong không khí vui tươi, phấn khởi và đầy cảm xúc. Đây sẽ là dấu mốc quan trọng trong hành trình trưởng thành của các em – những đội viên mới mang trong tim tình yêu quê hương đất nước và khát vọng vươn lên học tập, rèn luyện theo năm điều Bác Hồ dạy. Một số hình ảnh trong buổi lễ kết nạp đội viên:







Ảnh và bài viết: Phạm Tùng Lộc
]]>
Cô Vũ Thúy Hiền – Phó Hiệu trưởng nhà trường trao tặng 219 quyển vở mà các em học sinh nhà trường đã quyên góp được gửi đến chương trình.

Các bạn học sinh nhà trường đều rất mong muốn món quà nhỏ của mình sẽ đến được tay các bạn thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn, giúp các bạn có thêm đồ dùng mới để vững tin học tập.
VP Nhà trường
]]>







VP nhà trường
]]>
Đội ngũ Sao Đỏ năm học 2014-2015 là những Đội viên thực hiện tốt nghi thức Đội, có tư cách đạo đức, tác phong tốt, có năng lực học tập tương đối khá và đặc biệt là có tinh thần tự quản, tự giác tốt, là những Đội viên dám nói, dám làm, dám phê bình, dám nhận khuyết điểm.
Năm học mới đã bắt đầu, chúc cho tất các bạn trong hàng ngũ đội sao Đỏ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
|
STT |
HỌ VÀ TÊN |
LỚP |
TRỰC LỚP |
| 1 | Yến Nhi | 4A2 | 1A1 |
| 2 | Sơn | 4A2 | 4A1 |
| 3 | Long | 5A1 | 5A2 |
| 4 | Bảo Anh | 5A1 | 3A1 |
| 5 | Thảo |
4A1 |
1A2 |
| 6 | Sơn | 4A1 | 3A2 |
| 7 | Linh | 5A3 | 2A1 |
| 8 | Tùng | 5A3 | 4A2 |
| 9 | Ngân | 5A2 | 2A2 |
| 10 | Vân Trang | 5A2 | 5A3 |
| 11 | Q. Anh | 5A2 | 5A1 |
H.L
]]>1. Cán bộ, đoàn viên, thanh niên, thiếu nhi cả nước.
2. Khuyến khích các tầng lớp nhân dân; người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc ở nước ngoài; người nước ngoài đang sinh sống, học tập và làm việc tại Việt Nam.
II. GIẢI THƯỞNG CUỘC THI
1. Cấp Trung ương:
a/ Giải tập thể dành cho các tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc triển khai hiệu quả tại cấp cơ sở và nhiều bài dự thi cấp Trung ương có chất lượng:Gồm giấy chứng nhận của Ban Tổ chức cuộc thi kèm theo tiền thưởng:
– 01 giải nhất, trị giá: 15.000.000đ
– 02 giải nhì, trị giá mỗi giải: 7.000.000đ
– 03 giải ba, trị giá mỗi giải: 5.000.000đ
– Một số giải khuyến khích, trị giá mỗi giải: 2.000.000đ
b/ Giải dành cho các bài dự thi viết:Gồm giấy chứng nhận của Ban Tổ chức cuộc thi kèm theo tiền thưởng:
– 01 giải đặc biệt, trị giá: 10.000.000đ
– 02 giải nhất, trị giá mỗi giải: 5.000.000đ
– 03 giải nhì, trị giá mỗi giải: 3.000.000đ
– 04 giải ba, trị giá mỗi giải: 2.000.000đ
– Một số giải khuyến khích, trị giá mỗi giải: 1.000.000đ
c/ Giải dành cho các bài dự thi video clip:Gồm giấy chứng nhận của Ban Tổ chức cuộc thi kèm theo tiền thưởng:
– 01 giải đặc biệt, trị giá: 15.000.000đ
– 01 giải nhất, trị giá mỗi giải: 7.000.000đ
– 03 giải nhì, trị giá mỗi giải: 5.000.000đ
– 05 giải ba, trị giá mỗi giải: 3.000.000đ
– Một số giải khuyến khích, trị giá mỗi giải: 2.000.000đ
2. Cấp tỉnh: Do các địa phương, đơn vị tự xác định tùy thuộc và điều kiện, tình hình thực tế.
III. THỜI HẠN VÀ NƠI NHẬN BÀI DỰ THI
1. Thời hạn
– Phát động cuộc thi: ngày 18/8/2014.
– Hạn cuối thu bài cấp tỉnh: ngày 30/10/2014 (tính theo dấu bưu điện).
– Cấp Tỉnh sơ khảo, trao giải và gửi về Trung ương: Trước ngày 30/11/2014.
– Tổng kết, trao giải cấp Trung ương: Dịp kỷ niệm “70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 25 năm Ngày Hội Quốc phòng toàn dân” (22/12/2014).
2. Nơi nhận bài dự thi
– Bài dự thi gửi về các tỉnh, thành đoàn và đoàn trực thuộc theo nơi công tác, học tập hoặc sinh sống.
– Bài dự thi của người Việt Nam sinh sống, học tập và làm việc ở nước ngoài, người nước ngoài đang sinh sống, học tập và làm việc tại Việt Nam: Gửi về Ban Tuyên giáo Trung ương Đoàn, 60 Bà Triệu, Hoàn Kiếm, Hà Nội hoặc địa chỉ email: tuyengiaotwd@gmail.com.
IV. YÊU CẦU VỀ BÀI DỰ THI
1. Yêu cầu chung
– Cá nhân hoặc nhóm có thể sáng tác và gửi dự thi một hoặc nhiều bài dự thi với nhiều hình thức khác nhau trong cùng thời điểm. Người đăng ký dự thi phải là cá nhân hoặc đại diện nhóm.
– Bài dự thi phải ngắn gọn, súc tích theo yêu cầu của câu hỏi. Đối với các bài dự thi công phu, đặc biệt nếu có 10 bài trở lên Ban tổ chức sẽ thành lập hội đồng Ban giám khảo độc lập.
– Ban tổ chức cuộc thi sẽ cung cấp những thông tin cần thiết để làm tư liệu cho người tham gia dự thi nghiên cứu, tham khảo. Những thông tin này sẽ được đăng tải trên các báo: Quân đội nhân dân, Tiền phong, Thanh niên, Sinh viên Việt Nam, Website Đoàn thanh niên và một số phương tiện thông tin khác từ tháng 8/2014.
– Ban tổ chức không trả lại bài đã tham gia dự thi và được sử dụng trong công tác tuyên truyền giáo dục không lợi nhuận.
2. Bài thi viết
– Bài thi sử dụng tiếng Việt, viết tay hoặc đánh máy rõ ràng. Bài ghi rõ ở trang đầu các thông tin cá nhân: Họ tên, tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp, số điện thoại và thông tin liên hệ.
– Nếu gửi qua đường bưu điện ngoài phong bì ghi rõ: Bài dự thi tìm hiểu “70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 25 năm Ngày Hội Quốc phòng toàn dân” và ghi rõ nơi gửi, nơi nhận.
3. Dự thi Video Clip
– Video clip dự thi có thể có hoặc không có lời bình, phụ đề. Trong trường hợp sử dụng thêm hình ảnh, âm nhạc hoặc ca khúc của người khác thì nhóm dự thi hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền đối với tác giả.
– Video clip dự thi có thể được quay từ máy quay phim (chuyên hoặc bán chuyên), máy ảnh kỹ thuật số (Digital Camera), điện thoại di động có hỗ trợ quay phim từ 720p trở lên (từ 3.0 megapixel trở lên) hoặc phần mềm quay phim màn hình máy tính.
– Độ dài của video clip không ngắn dưới 1 phút và không dài quá 5 phút.
– Không chấp nhận video clip cắt ghép từ những video clip đã có sẵn từ trước trên mạng Internet hay từ bất cứ nguồn khác.
– Video clip dự thi không vi phạm hoặc là đối tượng tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ.
V. CÂU HỎI CUỘC THI:
Câu 1: Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam được thành lập ngày, tháng, năm nào? ở đâu? Ai làm Đội trưởng và Chính trị viên đầu tiên? Tư tưởng chỉ đạo khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là gì?
Câu 2: Hãy nêu tên và thời gian diễn ra những chiến dịch tiêu biểu của quân và dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược?
Câu 3: Bản chất, truyền thống cách mạng vẻ vang của Quân đội ta được Bác Hồ khái quát như thế nào? Câu nói đó được Bác Hồ nói ở đâu, thời gian nào? Yếu tố quyết định bản chất cách mạng của Quân đội ta là gì?
Câu 4.Ngày hội Quốc phòng toàn dân được Đảng ta quyết định vào ngày, tháng, năm nào? Ý nghĩa của Ngày hội Quốc phòng toàn dân?
Câu 5: Hãy trình bày cảm tưởng, kỷ niệm của bản thân, của gia đình, quê hương mình về “Bộ đội Cụ Hồ”, về mối quan hệ đoàn kết quân dân, về chủ quyền, biển đảo quốc gia và trách nhiệm của bản thân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay? (không quá 1.500 chữ).
BAN TỔ CHỨC CUỘC THI
]]>THUỘC VÀ HÁT ĐÚNG QUỐC CA, ĐỘI CA VÀ MỘT SỐ BÀI HÁT TRUYỀN THỐNG
– TIẾN QUÂN CA (Quốc ca) Nhạc và lời: Văn Cao
– CÙNG NHAU TA ĐI LÊN ( Đội ca ) Nhạc và lời: PHONG NHÃ
(+ Đoàn ca – Hội ca Hội LHTNVN – Bài ca người phụ trách – Hành khúc Đội TNTP HCM)
Kỹ năng thứ hai :
THẮT KHĂN QUÀNG ĐỎ
– Gấp chiều cạnh đáy khăn để phần chiều cao khăn còn khoảng 15cm, đặt khăn vào cổ áo, dựng cổ áo lên, chỉnh đuôi khăn giữa lưng áo, đặt dải khăn bên trái lên trên dải khăn bên phải.
– Vòng đuôi khăn bên trái vào trong, đưa lên trên và kéo ra phía ngoài.
– Lấy đuôi khăn bên trái vòng từ trái sang phải và buộc tiếp thành nút (Từ phải sang trái) với dải khăn bên phải.
– Thắt nút khăn, chỉnh cho hai dải khăn trên và dưới nút khăn xòe ra, sửa nút khăn vuông vắn, bẻ cổ áo xuống.
– Khăn quàng là một phần của lá cờ Tổ quốc, màu đỏ tượng trưng cho lý tưởng cách mạng.
THÁO KHĂN QUÀNG ĐỎ:
– Tay trái cầm nút khăn, tay phải cầm dải khăn phải phía trên nút, rút khăn ra.
(+ Xếp khăn)
Kỹ năng thứ ba :
CHÀO KIỂU ĐỘI VIÊN THIẾU NIÊN TIỀN PHONG
– Đội viên đứng ở tư thế nghiêm, mắt hướng về phía chào, chào bằng tay phải, các ngón tay khép kín giơ lên đỉnh đầu cách thùy trán bên phải khoảng 5cm, bàn tay thẳng với cánh tay dưới, khủy tay chếch ra phía trước tạo với thân người một góc khoảng 130o.
– Giơ tay lên đầu biểu hiện đội viên luôn luôn đặt lợi ích Tổ quốc và của tập thể Đội lên trên, năm ngón tay khép kín tượng trưng cho ý thức đoàn kết của đội viên để xây dựng Đội vững mạnh.
– Giơ tay chào và bỏ xuống theo đường ngắn nhất, không gây tiếng động.
– Đội viên chào khi dự lễ chào cờ, đón đại biểu, báo cáo cấp trên, làm lễ tưởng niệm . . . chỉ chào khi đeo khăn quàng đỏ hoặc đeo huy hiệu Đội.
Kỹ năng thứ tư :
CẦM CỜ, GIƯƠNG CỜ, KÉO CỜ VÀ VÁC CỜ
* Cầm cờ : Bàn tay phải nắm cán cờ cao ngang thắt lưng, đốc cán cờ đặt trên mặt đất, sát ngón út bàn chân phải.
– Cầm cờ ở tư thế nghiêm : Khi có lệnh “Nghiêm!”, kéo cán cờ áp sát vào thân mình, người ở tư thế nghiêm.
– Cầm cờ nghỉ : Khi nghe khẩu lệnh “Nghỉ!”, chân trái chùng và ngả cờ ra phía trước, tạo với thân người 1 góc 45o.
* Giương cờ : Được thực hiện khi chào cờ, lễ duyệt Đội, diễu hành và đón đại biểu.
+Từ tư thế cầm cờnghiêm chuyển sang giương cờ : Tay phải cầm cờ giương lên trước mặt, tay thẳng và vuông góc với thân người, cán cờ dựng thẳng đứng. Tay trái nắm cán cờ dưới bàn tay phải khoảng 20cm – 30cm, tay phải di chuyển xuống nắm sát đốccán cờ, kéo sát vào ngang sườn đưa về tư thế giương cờ.
+ Từ tư thế vác cờ chuyển sang giương cờ : Tay phải kéo đốc cán cờ về sát thân người, tay trái đẩy cán cờ ra phía trước về tư thế giương cờ.
* Vác cờ : Được sử dụng khi diễu hành, khi đưa cờ vào làm lễ chào cờ, lễ duyệt Đội, lễ đón đại biểu . .
Động tác tư thế vác cờ : Từ tư thế cầm cờ nghiêm, tay phải cầm cờ giương lên trước mặt, tay thẳng và vuông góc với thân người. Tay trái nắm cán cờ dưới bàn tay phải khoảng 20cm – 30cm, tay phải di chuyển xuống nắm sát đốc cán cờ, đưa thẳng ra phía trước nghiêng với mặt đất góc khoảng 45o, tay trái kéo cán cờ đặt lên vai phải đưa về tư thế vác cờ.
Kỹ năng thứ năm :
HÔ ĐÁP KHẨU HIỆU ĐỘI.
– Khẩu hiệu Đội : “Vì tổ quốc xã hội chủ nghĩa – Vì lý tưởng của Bác Hồ vĩ đại! Sẵn sàng!”, toàn đơn vị hô đáp lại : “Sẵn sàng!”. Khi hô không giơ tay.
Kỹ năng thứ sáu :
CÁC ĐỘNG TÁC CÁ NHÂN TẠI CHỖ VÀ DI ĐỘNG.
– Đứng nghỉ : Người ở tư thế đứng, khi có lệnh “Nghỉ!” hai tay để thẳng thoải mái, chân trái hơi chùng xuống, trọng tâm dồn vào chân phải, khi mỏi có thể đổi chân.
– Đứng nghiêm : Người ở tư thế đứng, khi có lệnh “Nghiêm!” người đứng thẳng, mắt nhìn thẳng, hai tay thẳng khép sát thân người, bàn tay nắm tự nhiên, hai chân thẳng, khép sát, hai bàn chân tạo thành hình chữ V ( Góc 60o ).
– Quay bên trái : Khi có lệnh “Bên trái – Quay!”, sau động lệnh “Quay!” người đứng nghiêm, lấy gót chân trái làm trụ, mũi chân phải làm điểm đỡ, quay người sang trái một góc 90o, sau đó rút chân phải lên, trở về tư thế đứng nghiêm.
– Quay bên phải : Khi có lệnh “Bên phải – Quay!”, sau động lệnh “Quay!” người đứng nghiêm, lấy gót chân phải làm trụ, mũi chân trái làm điểm đỡ, quay người sang phải một góc 90o, sau đó rút chân trái lên, trở về tư thế đứng nghiêm.
– Quay đằng sau : Khi có lệnh “Đằng sau – Quay!”, sau động lệnh “Quay! ” lấy gót chân phải làm trụ, mũi chân trái làm điểm đỡ, quay người sang phải một góc 180o, sau đó trở về tư thế đứng nghiêm.
– Dậm chân tại chỗ : Khi có lệnh “Dậm chân – Dậm!”, sau động lệnh “Dậm!”, bắt đầu bằng chân trái, dậm theo nhịp hô hoặc còi, trống, nhưng không chuyển vị trí. Khi đặt chân xuống đất, mũi chân đặt trước rồi đến gót chân. Tay phảivung về phía trước, bàn tay cao ngang thắt lưng, tay trái vung thẳng về phía sau. Khi có lệnh “Đứng lại – Đứng!” (Động lệnh “Đứng!” rơi vào chân phải ), đội viên dậm chân thêm một nhịp, kéo chân phải về tư thế đứng nghiêm.
– Chạy tại chỗ : Khi có lệnh “Chạy tại chỗ – Chạy!”, sau động lệnh “Chạy!”, bắt đầu bằng chân trái, chạy đều theo nhịp còi hoặc lời hô, nhưng không chuyển vị trí, hai tay co tự nhiên, lòng bàn tay hướng vào thân người, bàn tay nắm, đánh nhẹ ở tư thế thoải mái và vung dọc theo hướng chạy. Khi có lệnh “Đứng lại – Đứng!” (Động lệnh “Đứng!” rơi vào chân phải), đội viên dậm chân thêm ba nhịp nữa. Dậm chân phải về tư thế đứng nghiêm.
– Tiến : Khi có lệnh : “Tiến . . . bước – Bước!”, sau động lệnh “Bước!” người đứng thẳng, mắt nhìn thẳng, bắt đầu bằng chân trái bước lên trước liên tục theo số bước người chỉ huy hô, khoảng cách bước chân bằng một bàn chân, bước xong trở về tư thế nghiêm.
– Lùi : Khi có lệnh : “Lùi . . . bước – Bước!”, sau động lệnh “Bước!”, người đứng thẳng, mắt nhìn thẳng, bắt đầu bằng chân trái bước liên tục về phía sau theo số bước người chỉ huy hô, khoảng cách bước chân bằng một bàn chân, bước xong trở về tư thế nghiêm.
– Bước sang trái : Khi có lệnh : “Sang trái . . . bước – Bước!”, sau động lệnh “Bước!”, người đứng thẳng, mắt nhìn thẳng,chân trái bước sang trái, (Chân phải bước theo kiểu sâu đo), cứ như vậy đến hết số bước người chỉ huy hô. Mỗi bước rộng bằng vai, bước xong, trở về tư thế nghiêm.
– Bước sang phải : Khi có lệnh : “Sang phải . . . bước – Bước!”, sau động lệnh “Bước!”, người đứng thẳng, mắt nhìn thẳng, chân phải bước sang phải, (Chân trái bước theo kiểu sâu đo), cứ như vậy đến hết số bước người chỉ huy hô. Mỗi bước rộng bằng vai, bước xong, trở về tư thế nghiêm.
– Đi đều : Khi có lệnh“Đi đều – Bước!”, sau động lệnh “Bước!”, bắt đầu bước bằng chân trái theo nhịp còi, trống hoặc lời hô, tay phải đánh ra trước thắt lưng, tay trái vung thẳng ra phía sau đưa dọc theo người, bàn tay nắm tự nhiên, bước đều đặn, người thẳng, mắt nhìn thẳng. Khi có lệnh “Đứng lại – Đứng!”,Động lệnh “Đứng!” rơi vào chân phải, chân trái bước thêm một bước, rồi đưa chân phải lên, trở về tư thế đứng nghiêm.
Đi đều khác dậm chân tại chỗ cơ bản ở bước chân di chuyển, đầu gối không nhấc cao, bước đi bình thường, gót chân xuống trước, mũi xuống sau, không đá hất chân về phía trước hoặc giật ra phía sau.
– Chạy đều : Khi có lệnh“Chạy đều – Chạy!”, sau động lệnh “Chạy! ”, bắt đầu chạy bằng chân trái theo nhịp còi hoặc lời hô, đầu gối không nhấc cao, không đá chân, hai cánh tay co tự nhiên, lòng bàn tay hướng vào thân người, bàn tay nắm, đánh nhẹ ở tư thế thoải mái và vung dọc theo hướng chạy, người hơi đổ về trước. Khi có lệnh “Đứng lại – Đứng!”, Động lệnh “Đứng!” rơi vào chân phải, đội viên chạy thêm 3 bước nữa rồi kéo chân phải về tư thế đứng nghiêm.
Kỹ năng thứ bảy :
TRỐNG ĐỘI (ít nhất là 3 bài trống quy định: chào cờ, hành tiến, chào mừng)
+ Trống chào cờ
+ Trống chào mừng
+ Trống đệm Quốc ca
+ Trống hành tiến
+ Trống đệm Đội ca
]]>1. Khái niệm Nghi thức Đội:
– Nghi thức là một phương tiện giáo dục của Đội TNTP Hồ Chí Minh. Với những quy định biểu hiện bằng ngôn ngữ, hình thức tượng trưng, thủ tục, nghi lễ của đội ngũ, Nghi thức Đội góp phần mạnh mẽ vào việc xây dựng phương pháp giáo dục toàn diện, mang nét đặc trưng của Đội.
Trong đó, nổi bật là ý thức tổ chức kỉ luật, tư thế, tác phong và tinh thần tập thể cho đội viên, tạo ra vẻ đẹp tính nghiêm chỉnh và sự thống nhất của tổ chức Đội. Nghi thức Đội được tiến hành thường xuyên trong mọi hoạt động rèn luyện của Đội để tạo thành thói quen, nề nếp tốt cho đội viên trong tổ chức Đội.
– Việc tiến hành giáo dục bằng Nghi thức Đội đòi hỏi phải có tính thuyết phục cao, tính nghiêm túc, tính chính xác và thống nhất. Có như vậy thì mới làm cho Nghi thức Đội trở thành nhu cầu thực hiện của mỗi đội viên và tập thể Đội.
2. Một số nội dung của Nghi thức Đội TNTP Hồ Chí Minh
2.1. Giấy chứng nhận đạt chuyên hiệu và hoàn thành Chương trình rèn luyện đội viên
– Giấy chứng nhận đạt chuyên hiệu và hoàn thành từng hạng để cấp cho đội viên đạt các loại chuyên hiệu của Chương trình rèn luyện đội viên.
– Giấy chứng nhận chuyên hiệu là biểu tượng của từng loại chuyên hiệu có nội dung, tiêu chuẩn trong quy định trong Chương trình rèn luyện đội viên.
2.2. Đồng phục của đội viên
– Đội viên nam:
+ Áo sơ mi màu trắng.
+ Quần màu xanh tím than.
– Đội viên nữ:
+ Áo sơ mi màu trắng.
+ Quần âu hoặc váy màu xanh tím than.
– Mũ ca lô màu trắng, viền đỏ (cho cả đội viên nam và nữ).
– Đi dày hoặc dép có quai hậu.
2.3. Trống , Kèn
– Mỗi liên đội có ít nhất một bộ trống (gồm một trống cái và ít nhất hai trống con), một kèn (nếu có điều kiện).
– Các bài trống: Chào cờ, hành tiến, chào mừng.
– Các bài kèn: Kèn hiệu, chào mừng, tập hợp.
2.4. Sổ sách của Đội gồm:
a. Sổ
– Sổ nhi đồng.
– Sổ chi đội.
– Sổ liên đội.
– Sổ truyền thống.
– Sổ Tổng phụ trách Đội.
b. Sách
– Điều lệ Đội TNTP Hồ Chí Minh.
– Nghi thức Đội TNTP Hồ Chí Minh.
– Hướng dẫn thực hiện chương trình rèn luyện phụ trách.
– Hướng dẫn thực hiện chương trình rèn luyện đội viên.
– Búp măng xinh.
2.5. Phòng truyền thống, phòng Đội
– Mỗi liên đội có phòng truyền thống, phòng Đội là nơi trưng bày các hình ảnh, hiện vật truyền thống, thành tích của Đội và sinh hoạt Đội.
2.6. Yêu cầu đối với đội viên
– Thuộc, hát đúng Quốc ca, Đội ca và một số bài hát truyền thống.
– Thắt khăn, tháo khăn quàng đỏ.
– Chào kiểu đội viên TNTP.
– Biết các động tác cầm cờ, giương cờ, vác cờ.
– Hô, đáp khẩu hiệu Đội.
– Thực hiện các động tác trong đội hình và nghi lễ của Đội.
– Biết 3 bài trống của Đội.
2.7. Đội hình , đội ngũ đơn vị
– Đội hình hàng dọc, hàng ngang, chữ U, vòng tròn.
2.8. Nghi lễ của Đội
– Chào cờ, diễu hành, duyệt Đội, kết nạp đội viên, công nhận chi đội, trưởng thành Đội, đại hội Đội.
2.9. Nghi thức dành cho phụ trách
– Phụ trách quàng khăn đỏ khi sinh hoạt Đội và tham gia các hoạt động của Đội.
– Áo đồng phục của phụ trách Đội là áo đồng phục của thanh niên Việt Nam.
3. Tên và khẩu lệnh thực hiện yêu cầu đối với đội viên
3.1. Thuộc và hát đúng Quốc ca, Đội ca và một số bài hát truyền thống
– Khẩu lệnh: Quốc ca! Đội ca!
3.2. Thắt khăn, tháo khăn quàng đỏ
– Khẩu lệnh: Tháo khăn! Thắt khăn!
3.3. Chào kiểu đội viên Thiếu niên tiền phong
– Khẩu lệnh: Chào! – Thôi!
Chào cờ, chào!
3.4. Cầm cờ, giương cờ, vác cờ, kéo cờ
– Khẩu lệnh cầm cờ: Nghiêm! Nghỉ!
– Khẩu lệnh giương cờ: Chào cờ, chào! Giương cờ! (Chỉ dùng khi tập Nghi thức)
– Khẩu lệnh vác cờ: Vác cờ! (Chỉ dùng khi tập Nghi thức)
– Khẩu lệnh kéo cờ: Chào cờ, chào!
3.5. Hô đáp khẩu hiệu Đội
– Khẩu hiệu: “Vì tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì lí tưởng của Bác Hồ vĩ đại – Sẵn sàng!”
3.6. Các động tác cá nhân tại chỗ và di động
a> Các động tác tại chỗ
– Khẩu lệnh tư thế nghiêm, tư thế nghỉ: Nghiêm! Nghỉ!
– Khẩu lệnh quay phải, quay trái, quay đằng sau: Bên phải, quay! Bên trái, quay! Đằng sau, quay!
– Khẩu lệnh dậm chân tại chỗ: Dậm chân, dậm! Đứng lại, đứng!
– Khẩu lệnh chạy tại chỗ: Chạy tại chỗ, chạy! Đứng lại,đứng!
b> Các động tác di động
– Khẩu lệnh tiến, lùi, sang phải, sang trái:
Tiến (n) bước, bước! Lùi (n) bước, bước!
Sang phải (n) bước, bước! Sang trái (n) bước, bước!
– Khẩu lệnh đi đều: Đi đều, bước! Đứng lại, đứng!
– Khẩu lệnh chạy đều: Chạy đều, chạy! Đứng lại, đứng!
– Khẩu lệnh dừng để quy định đội hình khi đang đi đều hoặc chạy đều:
Vòng bên trái (phải) – bước!
Vòng bên trái (phải) – chạy!
Bên trái (bên phải) vòng đằng sau – bước!
Bên trái (bên phải) vòng đằng sau – chạy!
3.7. Đánh trống
– Mỗi đội viên phải biết 3 bài trống quy định: Trống chào cờ, trống hành tiến, trống chào mừng.
4. Cách thực hiện yêu cầu đối với đội viên
4.1. Thuộc và hát đúng Quốc ca, Đội ca và một số bài hát truyền thống
4.2. Thắt khăn, tháo khăn quàng đỏ
* Thắt khăn quàng đỏ:
– Dựng cổ áo lên, gấp xếp đổi chiều cạnh đáy khăn, để phần chiều cao khăn còn lại khoảng 15 cm, đặt khăn vào cổ áo, so hai đầu khăn bằng nhau, đặt dải khăn bên trái lên trên dải khăn bên phải.
– Vòng đuôi khăn bên trái vào trong đưa lên trên kéo ra phía ngoài.
– Lấy đuôi khăn bên trái vòng từ trái sang phải và buộc tiếp thành nút (từ phải sang trái) với dải khăn bên phải.
– Thắt nút khăn, chỉnh cho hai dải khăn trên và dưới xoè ra, sửa nút khăn vuông vắn, bẻ cổ áo xuống.
* Tháo khăn quàng đỏ:
– Tay trái cầm nút khăn, tay phải cầm dải khăn phải phía trên nút, rút khăn ra.
4.3. Chào kiểu đội viên Thiếu niên tiền phong
– Đội viên đứng ở tư thế nghiêm, mắt hướng về phía chào, chào bằng tay phải, các ngón tay khép kín giơ lên đầu cách thuỳ trán phải khoảng 5 cm, bàn tay thẳng với cánh tay dưới, khuỷu tay chếch ra phía trước tạo với thân người một góc khoảng 1300.
– Tay giơ lên đầu biêu hiện đội viên luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và của tập thể đội lên trên, năm ngón tay khép kín tượng trưng cho ý thức đoàn kết của đội viên để xây dựng đội vững mạnh.
– Giơ tay chào và bỏ xuống theo đường ngắn nhất, không gây tiếng động.
– Đội viên chào khi dự lễ chào cờ, đón đại biểu, báo cáo cấp trên, làm lễ tưởng niệm… chỉ chào khi đeo khăn quàng đỏ hoặc huy hiệu Đội.
4.4. Cầm cờ, giương cờ, vác cờ, kéo cờ
* Cầm cờ: Bàn tay phải nắm cán cờ cao ngang thắt lưng, đốc cán cờ đặt trên mặt đất, sát ngón út bàn chân phải.
– Cầm cờ ở tư thế nghiêm: Khi có khẩu lệnh “nghiêm”, kéo cán cờ áp sát vào thân mình, người ở tư thế nghiêm.
– Cầm cờ nghỉ: Khi nghe khẩu lệnh “Nghỉ”, chân trái chùng và ngả cờ ra phía trước.
* Giương cờ: Được thực hiện khi chào cờ, lễ duyệt Đội, diễu hành và đón đại biểu
– Từ tư thế cầm cờ nghiêm chuyển sang giương cờ: tay phải cầm cờ giương lên trước mặt, tay thẳng và vuông góc với thân người, cán cờ dựng thẳng đứng. Tay trái nắm cán cờ dưới bàn tay phải khoảng 20cm – 30cm, tay phải di chuyển xuống nắm sát đốc cán cờ, kéo sát vào ngang thắt lưng đưa về tư thế giương cờ.
– Từ tư thế vác cờ chuyển sang giương cờ: Tay phải kéo đốc cán cờ về sát thân người, tay trái đẩy cán cờ ra phía trước về tư thế giương cờ.
* Vác cờ: Được sử dụng khi diễu hành, khi đưa cờ vào làm lễ chào cờ, lễ duyệt Đội, lễ đón đại biểu…
– Động tác, tư thế vác cờ: Từ tư thế cầm cờ nghiêm tay phải cầm cờ giương lên trước mặt, tay thẳng và vuông góc với thân người, cán cờ dựng thẳng đứng. Tay trái nắm cán cờ dưới bàn tay phải khoảng 20 – 30 cm, tay phải di chuyển xuống nắm sát đốc cán cờ, đưa thẳng ra phía trước nghiêng với mặt đất một góc khoảng 45°, tay trái kéo cán cờ đặt lên vai phải đưa về tư thế vác cờ.
4.5. Hô đáp khẩu hiệu Đội
– Sau khi chào cờ, hát xong Quốc ca, Đội ca, phụ trách, liên đội trưởng hoặc chi đội trưởng (nếu cấp trưởng vắng thì cấp phó hoặc uỷ viên BCH thay) hô khẩu hiệu Đội: “Vì tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì lí tưởng của Bác Hồ vĩ đại – Sẵn sàng!”, toàn đơn vị hô đáp lại: “Sẵn sàng!” 1 lần, khi hô không giơ tay.
4.6. Các động tác cá nhân tại chỗ và di động
– Quay bên phải: Khi có khẩu lệnh “Bên phải – quay!”, sau động lệnh “quay” người đứng nghiêm, lấy gót chân phải làm trụ, mũi chân trái làm điểm đỡ, quay người sang phía phải một góc 900, sau đó rút chân trái lên, trở về tư thế nghiêm.
– Quay bên trái: Khi có lệnh “bên trái quay!” sau động lệnh “quay”, người đứng nghiêm, lấy gót chân trái làm trụ, mũi chân phải làm điểm đỡ, quay người sang phía trái một góc 900, sau đó rút chân phải lên trở về tư thế đứng nghiêm.
– Quay đằng sau: Khi có khẩu lệnh “Đằng sau – quay!”, sau động lệnh “quay”, lấy gót chân phải làm trụ, mũi chân trái làm điểm đỡ, quay người sang phía bên phải một góc 1800, sau đó rút chân trái lên, trở về tư thế nghiêm.
– Dậm chân tại chỗ: Khi có khẩu lệnh “Dậm chân – dậm!”, sau động lệnh “dậm!”, bắt đầu bằng chân trái dậm theo nhịp hô hoặc còi, trống, nhưng không chuyển vị trí. Khi đặt chân xuống đất, mũi chân đặt trước rồi đến gót chân. Tay phải vung về phía trước, bàn tay cao ngang thắt lưng, tay trái vung thẳng về phía sau. Khi có khẩu lệnh “Đứng lại – đứng!” (động lệnh “đứng!” rơi vào chân phải), đội viên dậm chân thêm một nhịp, kéo chân phải về tư thế nghiêm.
– Chạy tại chỗ: Khi có khẩu lệnh “Chạy tại chỗ – chạy!”, sau động lệnh “chạy!”, bắt đầu bằng chân trái, chạy đều theo nhịp còi hoặc lời hô, nhưng không chuyển vị trí. Hai cánh tay co tự nhiên, lòng bàn tay hướng vào thân người, bàn tay nắm, đánh nhẹ ở tư thế thoải mái và vung dọc theo hướng chạy. Khi có khẩu lệnh “Đứng lại – đứng!” (động lệnh “đứng!” rơi vào chân phải), đội viên chạy thêm 3 nhịp nữa. Dậm chân phải, về tư thế nghiêm.
– Tiến: Khi có khẩu lệnh “Tiến … bước – bước!”, sau động lệnh “bước!”, người đứng thẳng, mắt nhìn thẳng, bắt đầu bằng chân trái bước lên trước liên tục theo số bước người chỉ huy hô, khoảng cách bước chân bằng một bàn chân, bước xong trở về tư thế nghiêm.
– Lùi: Khi có khẩu lệnh “Lùi … bước – bước!”, sau động lệnh “bước!”, người đứng thẳng, mắt nhìn thẳng, bắt đầu bằng chân trái bước liên tục về phía sau theo số bước người chỉ huy hô, khoảng cách bước chân bằng một bàn chân, bước xong trở về tư thế nghiêm.
– Bước sang trái: Khi có khẩu lệnh “Sang trái … bước – bước!”, sau động lệnh “bước!”, người đứng thẳng, mắt nhìn thẳng, chân trái bước sang trái, chân phải bước theo (kiểu sâu đo), cứ như vậy đến hết số bước người chỉ huy hô. Mỗi bước rộng khoảng bằng vai, bước xong trở về tư thế nghiêm.
– Bước sang phải: Khi có khẩu lệnh “Sang phải … bước – bước!”, sau động lệnh “bước!”, người đứng thẳng, mắt nhìn thẳng, chân phải bước sang phải, chân trái bước theo (kiểu sâu đo), cứ như vậy đến hết số bước người chỉ huy hô. Mỗi bước rộng khoảng bằng vai, bước xong trở về tư thế nghiêm.
– Đi đều: Khi có khẩu lệnh “Đi đều – bước!”, sau động lệnh “bước!”, bắt đầu bước bằng chân trái theo nhịp còi, trống hoặc lời hô. Tay phải đánh ra trước thắt lưng, tay trái vung thẳng ra sau đưa dọc theo người, bàn tay nắm tự nhiên, bước đều đặn, người thẳng, mắt nhìn thẳng. Khi có khẩu lệnh “Đứng lại – đứng!”, động lệnh “đứng!” rơi vào chân phải, chân trái bước thêm một bước, rồi đưa chân phải lên, trở về tư thế đứng nghiêm.
+ Đi đều khác dậm chân tại chỗ cơ bản ở bước chân di chuyển, đầu gối không nhấc cao, bước đi bình thường gót chân xuống trước, mũi xuống sau, không đá hất chân về phía trước hoặc giật ra phía sau.
– Chạy đều: Khi có khẩu lệnh “Chạy đều – chạy!”, sau động lệnh: “chạy!”, bắt đầu chạy bằng chân trái theo nhịp còi hoặc lời hô, đầu gối không nhấc cao, không đá chân, hai cánh tay co tự nhiên, lòng bàn tay hướng vào thân người, bàn tay nắm, đánh nhẹ ở tư thế thoải mái và vung dọc theo hướng chạy, người hơi đổ về trước. Khi có khẩu lệnh “Đứng lại – đứng!”, động lệnh “đứng!” rơi vào chân phải, đội viên chạy thêm 3 bước nữa rồi kéo chân phải về tư thế nghiêm.
4.7. Đánh trống:
– Mỗi đội viên phải biết 3 bài trống quy định: Trống chào cờ, trống hành tiến, trống chào mừng.
5. Các loại đội hình
– Kí hiệu
+ Liên đội trưởng
+ Liên đội phó
+ Chi đội trưởng
+ Chi đội phó
+ Phân đội trưởng
+ Phân đội phó
+ Hướng mặt
a> Đội hình hàng dọc: Đội hình hàng dọc để tập hợp điểm số, báo cáo, khi hành tiến hoặc tổ chức các hoạt động.
– Phân đội hàng dọc: Phân đội trưởng đứng đầu, các đội viên thứ tự xếp hàng từ thấp đến cao, phân đội phó đứng cuối hàng.
– Chi đội hàng dọc: Các phân đội xếp hàng dọc, phân đội 1 làm chuẩn, các phân đội khác (theo thứ tự) đứng bên trái phân đội 1 (Chi đội là đơn vị cơ sở, không nên coi đây là đội hình phân đội hàng dọc chi đội hàng ngang).
– Liên đội hàng dọc: Các chi đội xếp hàng dọc, trên cùng là chi đội 1, các chi đội theo thứ tự đứng sau chi đội đứng đầu (sắp xếp khi diễu hành).
b> Đội hình hàng ngang: Đội hình hàng ngang được dùng khi tổ chức nghe nói chuyện, lễ duyệt Đội, lễ chào cờ, tập hợp báo cáo toàn liên đội …
– Phân đội hàng ngang: Phân đội trưởng đứng đầu, đội viên lần lượt đứng về phía trái phân đội trưởng từ thấp đến cao, phân đội phó đứng cuối hàng.
– Chi đội hàng ngang: Phân đội 1 xếp hàng ngang trên cùng là chuẩn, các phân đội xếp hàng ngang theo thứ tự đứng sau phân đội 1.
– Liên đội hàng ngang: Chi đội 1 xếp hàng dọc là chuẩn, các chi đội khác xếp hàng dọc lần lượt đứng về phía trái chi đội 1.
c> Đội hình chữ U: Đội hình chữ U được dùng khi tổ chức lễ chào cờ, lễ kết nạp đội viên và một số hoạt động ngoài trời.
– Chi đội tập hợp chữ U: Phân đội 1 là một cạnh của chữ U, các phân đội giữa làm đáy (có thể một hàng ngang hoặc 2,3 … hàng ngang), phân đội cuối làm cạnh kia của chữ U.
– Khi nghe lệnh tập hợp, các đội viên chạy tại chỗ, sau đó lần lượt chạy về vị trí theo điểm rót của phân đội, đến nơi thì đứng lại, (phân đội trưởng phân đội 1 chạm tay trái vào vai trái chi đội trưởng), quay trái vào trong chữ U, về tư thế nghiêm.
d> Đội hình vòng tròn: Được sử dụng khi tổ chức các hoạt động tập thể như Múa, hát, tổ chức trò chơi, lửa trại, sinh hoạt nội bộ ngoài trời. Khi có lệnh tập hợp, các đội viên chạy đều tại chỗ, sau đó lần lượt chạy về vị trí tập hợp, theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, vừa chạy vừa điều chỉnh, khi chỉ huy bỏ tay xuống thì dừng lại và quay vào trong vòng tròn về tư thế nghiêm.
6. Đội ngũ
a> Đội ngũ tĩnh tại
* Chỉnh đốn đội ngũ: Sau khi tập hợp, cần phải chỉnh đốn đội ngũ để có một đơn vị sắp xếp ngay ngắn, nghiêm chỉnh, có cự li thích hợp để bắt đầu hoạt động. Cự li hẹp bằng một khuỷu tay trái, bàn tay trái chống ngang thắt lưng, 4 ngón đặt phía trước), cự li rộng bằng một cánh tay trái (nếu đưa sang ngang, lòng bàn tay úp; nếu đưa lên phía trước, lòng bàn tay vuông góc với mặt đất).
* Chỉnh đốn hàng dọc:
– Phân đội: Khẩu lệnh “Nhìn trước – thẳng !”. Nghe động lệnh “thẳng!”, đội viên nhìn gáy người trước, tay trái giơ thẳng, lòng bàn tay vuông góc với mặt đất, các ngón tay khép kín và chạm vào vai trái người đứng trước (không đặt cả bàn tay, không kiễng chân). Khi nghe khẩu lệnh “thôi!”, đội viên bỏ tay xuống, về tư thế nghiêm.
– Chi đội: Khẩu lệnh “Cự li rộng (hẹp), nhìn chuẩn – thẳng!”. Sau động lệnh “thẳng!”, các phân đội trưởng (trừ phân đội cuối) dùng tay trái để xác định cự li giữa các phân đội (chỉnh đốn hàng ngang). Đội viên phân đội 1 dùng tay trái xác định cự li giữa các đội viên (chỉnh đốn hàng dọc). Các đội viên phân đội khác nhìn phân đội trưởng để chỉnh đốn hàng dọc, nhìn đội viên phân đội 1 cùng hàng ngang để chỉnh đốn hàng ngang. Khi nghe khẩu lệnh “thôi!”, đội viên bỏ tay xuống, về tư thế nghiêm.
* Chỉnh đốn hàng ngang:
– Phân đội: Khẩu lệnh “Cự li rộng (hẹp), nhìn chuẩn – thẳng!”. Sau động lệnh “thẳng!”, đội viên nhìn phân đội trưởng để chỉnh đốn hàng ngang, dùng tay trái để xác định cự li giữa các đội viên. Khi nghe khẩu lệnh “thôi!”, đội viên bỏ tay xuống, về tư thế nghiêm.
– Chi đội hàng ngang: Khẩu lệnh ” Cự li rộng (hẹp), nhìn chuẩn – thẳng!”. Sau động lệnh “thẳng!”, các phân đội trưởng dùng tay trái xác định cự li hàng dọc, đội viên phân đội 1 dùng tay trái xác định cự li hàng ngang. Các đội viên phân đội khác nhìn phân đội trưởng của mình để chỉnh đốn hàng ngang, nhìn đội viên phân đội 1 để chỉnh đốn hàng dọc. Khi nghe khẩu lệnh “thôi!”, đội viên bỏ tay xuống, về tư thế nghiêm.
– Chi đội hình chữ U: Khẩu lệnh “Cự li rộng (hẹp), nhìn chuẩn – thẳng!”. Sau động lệnh “thẳng!” các đội viên nhìn phân đội trưởng để chỉnh đốn hàng ngang và dùng tay trái xác định cự li. Khi nghe khẩu lệnh “thôi!”, đội viên bỏ tay xuống, về tư thế nghiêm. Riêng ở góc chữ U luôn luôn có khoảng cách là một cự li rộng được xác định bởi tay trái phân đội phó phân đội 1 đưa ngang chạm vai phải phân đội trưởng phân đội 2 và tay trái phân đội phó phân đội 2 (hoặc 3, 4, 5 … nếu các phân đội đáy là một hàng) đưa ra phía trước chạm vai phải phân đội trưởng phân đội cuối.
* Đội hình vòng tròn: Khẩu lệnh “Cự li rộng (hẹp) chỉnh đốn đội ngũ!”.- Cự li hẹp được tạo nên do 2 đội viên đứng cạnh nhau, cánh tay tạo với thân người một góc khoảng 450.
– Cự li rộng được tạo nên do 2 đội viên đứng cạnh nhau nắm tay nhau, đứng thẳng cánh tay, vuông góc với thân người. Khi nghe khẩu lệnh “thôi!”, đội viên bỏ tay xuống, về tư thế nghiêm.
* Điểm số, báo cá Trước buổi sinh hoạt Đội, các đơn vị điểm số, báo cáo sĩ số
– Điểm số:
+ Điểm số phân đội: Phân đội trưởng tiến 1 bước, quay đằng sau, hô “Nghiêm! Phân đội điểm số!” và phân đội trưởng hô số “một”, các đội viên đánh mặt sang trái hô số tiếp theo, lần lượt cho đến người cuối cùng điểm số xong hô: “hết”.
+ Điểm số toàn chi đội: Sau khi nghe lệnh “Nghiêm! Các chi đội điểm số, báo cáo! Nghỉ”, các chi đội trưởng đứng lên vị trí chỉ huy chi đội mình, hô: “Nghiêm! Chi đội điểm số!”, phân đội trưởng phân đội 1 hô : “một”, các đội viên phân đội 1 tiếp tục điểm số cho đến người cuối cùng. Người cuối cùng điểm số xong hô: “hết”. Phân đội trưởng phân đội 2 hô số tiếp theo số của người cuối cùng phân đội 1, các đội viên phân đội 2 điểm số tiếp… Các phân đội còn lại lần lượt tiến hành như thế cho đến hết. Chi đội trưởng lấy số cuối cùng của chi đội cộng với Ban chỉ huy (nếu đứng hàng riêng) và đội viên ở đội cờ, đội trống rồi báo cáo với liên đội.
– Báo cáo sĩ số: Điểm số xong các đơn vị lần lượt báo cáo chỉ huy:
+ Ở chi đội: Phân đội 1 điểm số xong, phân đội trưởng cho phân đội đứng nghiêm, quay đằng sau, bước lên báo cáo chi đội trưởng. Khi phân đội trưởng phân đội 1 báo cáo, phân đội trưởng phân đội 2 bắt đầu cho phân đội mình điểm số và lần lượt như vậy đến phân đội cuối.
+ Ở liên đội: Các chi đội trưởng lần lượt từ chi đội 1 đến chi đội cuối báo cáo với chỉ huy liên đội.
+ Ở cuộc họp lớn, liên đội trưởng lên báo cáo tổng chỉ huy.
– Thủ tục báo cá Sau khi điểm số xong, các đơn vị trưởng lần lượt hô đơn vị mình đứng nghiêm, rồi (chạy hoặc đi tuỳ theo cự li xa hoặc gần) đến trước chỉ huy, cách khoảng 3 bước nói t “Báo cáo! (đơn vị trưởng giơ tay chào chỉ huy, chủ huy chào đáp lại, 2 người cùng bỏ tay xuống). Báo cáo chi đội trưởng (Liên đội trưởng, Tổng phụ trách …) phân đội (chi đội, liên đội) có … đội viên, có mặt …. , vắng mặt …., có lí do….., không có lí do …… Báo cáo hết!”. Chỉ huy đáp: “Được!”. Đơn vị trưởng chào chỉ huy, chỉ huy chào đáp lại và cùng bỏ tay xuống. Đơn vị trưởng quay về trước đơn vị hô: “Nghỉ!” và trở về vị trí.
b> Đội ngũ vận động
* Đội ngũ đi đều: Toàn đơn vị phải bước cùng một nhịp, cùng đưa chân và cùng vung tay đều đặn. Hàng ngang, hàng dọc phải thẳng, đều.
* Đội ngũ chạy đều: Toàn đơn vị chạy đều và nhịp nhàng theo lệnh của chỉ huy.
* Đội ngũ chuyển hướng vòng
– Vòng trái: Đơn vị đang đi đều , sau khẩu lệnh: “Vòng bên phải – bước!” hoặc “Vòng bên trái – chạy!”, những đội viên hàng bên trái (ngoài cùng) bước đến điểm quay (được xác định) bằng vị trí phân đội trưởng khi dứt động lệnh) thì bước (chạy) ngắn hơn, đồng thời quay sang trái. Những đội viên ở hàng bên phải khi đến điểm quay thì bước dài hơn, đồng thời quay bên trái. Sau đó đi (chạy) tiếp và giữ đúng cự li.
– Vòng phải: Tiến hành ngược lại.
– Vòng đằng sau: Tiến hành như vòng trái (vòng phải) nhưng di chuyển đội hình quay ngược lại hướng đi ban đầu. Khẩu lệnh: “Bên trái (bên phải) vòng đằng sau bước! (chạy!)”.
7. Yêu cầu đối với chỉ huy Đội
a> Trang phục
– Mặc đồng phục đội viên.
– Đeo cấp hiệu chỉ huy Đội.
b> Tư thế
– Nhanh nhẹn, nghiêm túc, chuẩn xác, dứt khoát.
c> Khẩu lệnh
– Khi hô phải rõ dự lệnh và động lệnh, hô to, rõ để cả đơn vị đều nghe thấy. Chỉ huy phải kiểm tra hiệu quả của khẩu lệnh. Khi đội viên chưa thực hiện xong, chưa chuyển sang khẩu lệnh khác.
d> Động tác, tư thế chỉ huy khi tập hợp
* Chọn địa hình: Cần chọn vị trí rộng để tập hợp đội hình và phù hợp với những hoạt động đã dự định, tránh nơi có vật trở ngại hoặc lầy lội.
* Xác đinh phương hướng: Cần chú ý những yếu tố sau : tránh nắng chiếu vào mặt, tránh hướng gió, tránh ô nhiễm môi trường, tránh hướng có nhiều hoạt động ồn ào.
* Vị trí và tư thế khi tập hợp: Khi tập hợp, chỉ huy đứng ở điểm chuẩn, tư thế nghiêm để các đơn vị lấy làm chuẩn, không xê dịch vị trí, quay qua, quay lại…
* Động tác chỉ định đội hình: Chỉ huy dùng tay trái chỉ định đội hình tập hợp.
– Hàng dọc: tay trái giơ thẳng lên cao, các ngón tay khép kín, lòng bàn tay hướng về phía thân người.
– Hàng ngang: tay trái giơ sang ngang tạo với thân người một góc 900, các ngón tay khép kín, lòng bàn tay úp xuống.
– Chữ U: Tay trái đưa ngang, cánh tay trên vuông góc với cánh tay dưới, bàn tay nắm kín, lòng bàn tay hướng về phía thân người.- Vòng tròn: Hai tay vòng lên đầu, bàn tay mở, các ngón tay khép kín, lòng bàn tay úp xuống, ngón giữa hai bàn tay chạm nhau.
* Chú ý: Khi giơ tay chỉ định đội hình tập hợp, hướng mặt của chỉ huy luôn cùng với hướng của đội hình.
– Khi đội viên đầu tiên vào vị trí chuẩn của đội hình, chạm tay trái vào vai trái của chỉ huy, chỉ huy chuyển từ vị trí tập hợp sang vị trí điều khiển đơn vị.
* Lệnh tập hợp: Phát lệnh tập hợp bằng còi, hoặc khẩu lệnh (không vừa dùng còi, vừa dùng khẩu lệnh).
– Lệnh bằng còi: Được cấu tạo bằng độ dài của tiếng còi ghi theo kí hiệu moóc-xơ
+ Kí hiệu:
Dấu (.) (tích) là tiếng còi ngắn.
Dấu (-) (tè) là tiếng còi dài.
+ Các kí hiệu moóc – xơ dùng khi tập hợp :
(-) một hồi dài (chữ T) : Chuẩn bị chú ý.
(.-) (chữ A) 4 lần : Tập hợp toàn đơn vị.
(..) (chữ I) : nhiều lần : giục nhanh lên.
(–.) (chữ G) : Dừng lại.
(.–.) (chữ P) : Gọi phân đội trưởng.
(-.-) (Chữ C) : Gọi chi đội trưởng.
(.-.-) : Khi đi, khi chạy, tiếng ngắn rơi vào chân trái, tiếng dài rơi vào chân phải.
* Các khẩu lệnh:
– Chi đội (phân đội, liên đội) tập hợp!
– Nghiêm! Nhìn trước – thẳng! Thôi!
– Đội trống, đội cờ vào (về) vị trí!
– Nghiêm! Chào cờ – chào!
– Nghiêm!
– Nghỉ!
– Khẩu lệnh điểm số
+ Phân đội điểm số!
+ Chi đội điểm số!
+ Các phân đội (chi đội ) điểm số – báo cáo!
– Bên trái (phải, đằng sau) – quay!
– Tiến (lùi, sang phải, sang trái) …n… bước – bước!
– Dậm chân – dậm!
– Đi đều – bước!
– Chạy tại chỗ – chạy!
– Chạy đều – chạy!
– Đứng lại – đứng!
– Vòng bên trái (bên phải) – bước!
– Vòng bên trái (bên phải) – chạy!
– Bên trái (bên phải) vòng đằng sau – bước! (chạy!)
– Cự li rộng (hẹp), nhìn chuẩn thẳng! (đối với đội hình hàng dọc, ngang và chữ U).
– Cự li rộng (hẹp), chỉnh đốn đội ngũ! ( đối với đội hình vòng tròn).
* Vị trí của người chỉ huy trong đội hình, đội ngũ
– Vị trí chỉ huy tập hợp: Khi tập hợp, chỉ huy là chuẩn của đơn vị. Ở đội hình hàng dọc và chữ U, đội viên đứng sau chỉ huy có khoảng cách bằng một cánh tay (cánh tay trái đưa lên chạm vai trái chỉ huy) cùng hướng với chỉ huy. Ở đội hình hàng ngang, đội viên đứng tiếp bên trái chỉ huy có khoảng cách bằng một cánh tay (vai phải chạm tay trái của chỉ huy) và cùng hướng với chỉ huy. Ở đội hình vòng tròn: Chỉ huy làm tâm.
– Vị trí chỉ huy khi điều khiển đơn vị: Sau khi đội viên đầu tiên vào vị trí chuẩn của đội hình tập hợp, chỉ huy chuyển sang vị trí trung tâm để điều khiển và bao quát đơn vị, để các đội viên đều phải nghe thấy khẩu lệnh chỉ huy. Khoảng cách giữa chỉ huy đến đơn vị tuỳ thuộc đội hình đơn vị lớn hay nhỏ.
– Vị trí chỉ huy đơn vị tĩnh tại: (Liên đội hàng ngang, chi đội hàng dọc).
+ Phân đội trưởng đứng đầu, phân đội phó đứng cuối phân đội; chi đội trưởng đứng bên phải phân đội trưởng phân đội 1 (các uỷ viên Ban chỉ huy đứng sau chi đội trưởng); đội viên cầm cờ đứng bên phải chi đội trưởng; phụ trách chi đội đứng bên phải cờ. Ban chỉ huy liên đội đứng bên phải phụ trách của chi đội 1; đội cờ liên đội đứng hàng ngang bên phải Ban chỉ huy liên đội (nếu đội cờ có 3 đội viên, thì 1 đội viên cầm cờ, 2 đội viên hộ cờ. Nếu đội cờ có 5 đội viên thì đứng giữa là cờ Tổ quốc, bên trái là cờ Đoàn, bên phải là cờ Đội; 2 hộ cờ hai bên). Đội trống đứng đằng sau đội cờ, bên phải đội cờ là Tổng phụ trách.
+ Đội hình của các chi đội khác đứng lần lượt bên trái chi đội 1, khoảng cách bằng 1 cự li rộng.
– Vị trí chỉ huy khi hành tiến của liên đội
+ Đi đầu là đội cờ của liên đội, sau đội cờ khoảng 2m là Ban chỉ huy liên đội (Liên đội trưởng đi giữa, liên đội phó hoặc hai uỷ viên đi hai bên), sau Ban chỉ huy khoảng 2m là đội trống, sau khoảng 5m là người cầm cờ của chi đội 1, sau cờ khoảng 1m là chi đội trưởng, sau chi đội trưởng khoảng 1m là đội hình chi đội, chi đội nọ cách chi đội kia khoảng 5m.
8. Vai trò, tầm quan trọng của nghi lễ Đội
– Việc rèn luyện và thực hiện nghi lễ Đội TNTP Hồ Chí Minh có vai trò quan trong đối với mỗi đội viên, mỗi tổ chức cơ sở Đội, Nghi lễ của Đội chính là các hình thức tổ chức hoạt động được quy định nhằm thu hút, tập hợp thiếu nhi thực hiện thống nhất ở mọi lục, mọi nơi.
– Là phương tiện giáo dục đối với đội viên TNTP Hồ Chí Minh, góp phần xây dựng nhân cách, lí tưởng cho các em
– Góp phần củng cố, xây dựng tổ chức Đội: Việc thực hiện nghi lễ Đội, cần xây dựng tinh thần đoàn kết, tính tập thể và vì cộng đồng chung cho đội viên
* Các loại nghi lễ của Đội
– Lễ chào cờ
– Lễ diễu hành
– Lễ duyệt Đội
– Kết nạp đội viên
– Lễ công nhận chi đội
– Lễ trưởng thành
– Đại hội Đội.
9. Các loại hình nghi lễ của Đội
a> Lễ chào cờ
– Được cử hành nghiêm trang để mở đàu cho các buổi lễ lớn của Đội và buổi sinh hoạt, hoạt động Đội.
* Diễn biến: (Sau khi đã tập hợp và ổn định đơn vị).
– Chỉ huy hô: ” Đội trống, đội cờ vào vị trí !” (đội trống đeo trống, đội cờ của liên đội và các chi đội vác cờ vào vị trí quy định, với từng hình thức tổ chức, đến nơi, đưa cờ về tư thế nghỉ).
– Chỉ huy hô : “Mời các vị đại biểu và các bạn chuẩn bị làm lễ chào cờ!”.
– Chỉ huy hô: “Nghiêm!”, thổi kèn hiệu chào cờ. Hết hồi kèn, chỉ huy hô: “Chào cờ – chào!”, cờ giương (hoặc kéo), đánh trống chào cờ, đội viên giơ tay chào.
– Dứt tiếng trống đội viên bỏ tay xuống, đứng tư thế nghiêm (trống, cờ vẫn ở tư thế làm lễ), chỉ huy hô: “Quốc ca!”, đội viên hát Quốc ca. (hát hết bài 1 lần)
– Chỉ huy hô: “Đội ca!”, đội viên hát Đội ca. (hát hết bài 1 lần)
– Phụ trách hoặc 1 em trong Ban chỉ huy quay về đội hình hô: “Vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa – Vì lí tưởng của Bác Hồ vĩ đại – Sẵn sàng!”, tất cả đội viên đồng thanh đáp 1 lần : “Sẵn sàng!” (không giơ tay) – (nếu trong các buổi lễ lớn, có phút sinh hoạt truyền thống thì sau lời đáp : “Sẵn sàng!”, chỉ huy hô: “Phút sinh hoạt truyền thống!”. Sinh hoạt truyền thống thực hiện xong. Chỉ huy hô : “Đội trống, đội cờ về vị trí!” (đội trống đeo trống, đội cờ vác cờ về vị trí tập hợp đội hình tĩnh tại).
* Các hình thức tổ chức lễ chào cờ: Có 3 hình thức
– Hình thức thứ nhất: Cờ được treo sẵn trên lễ đài hoặc trên cột cờ.
+ Diễn biến lễ chào cờ được tiến hành như quy định
– Hình thức thứ hai: Cờ được đội viên cầm, đứng trước đơn vị.
+ Chào cờ ở chi đội: Cờ của chi đội do 1 đội viên cầm ở tư thế giương cờ (không có hộ cờ) đứng trước chi đội và quay mặt về đơn vị. Diễn biến lễ chào cờ như quy định.
+ Chào cờ ở liên đội: Đội cờ của liên đội bao gồm 1 đội viên hoặc 3 đội viên (nếu có cờ Tổ quốc và cờ Đoàn) cầm cờ và 2 đội viên hộ cờ (băng hộ cờ – nếu có – chỉ dùng cho đội cờ), đứng cách đội hình ít nhất 3 mét, đội trống đứng sau đội cờ, tất cả đều quay mặt về đơn vị. Cờ của chi đội do một đội viên cầm ở tư thế giương cờ, đứng trước đơn vị, cách 3 bước cùng hướng với đơn vị. Diễn biến lễ chào cờ như quy định.
* Chú ý: Khi nghe khẩu lệnh: “Chào cờ – chào!”, cờ được giương lên cho đến hết lễ chào cờ, (Sau khi hô – đáp khẩu hiệu hoặc kết thúc phút sinh hoạt truyền thống). Hai hộ cờ trong đội cờ liên đội luôn ở tư thế nghiêm cho đến hết lễ chào cờ (không giơ tay chào).
– Hình thức thứ ba: Kéo cờ.
+ Đội cờ về vị trí tập kết, bốn đội viên cầm 4 góc cờ. Khi có lệnh vào vị trí, dâng cờ lên ngang vai tiến vào cột cờ theo nhịp trống hành tiến. Đến cột cờ, 4 đội viên hạ cờ ngang thắt lưng, 2 đội viên đứng trước buộc cờ vào dây kéo, 2 đội viên đứng sau nâng cờ.
+ Khi có khẩu lệnh chào cờ, một đội viên cầm một dây để kéo cờ lên, một đội viên cầm dây thả dần ra, 2 đội viên còn lại tiến lên thành hàng ngang với người kéo cờ và quay xuống đơn vị, đứng nghiêm, không giơ tay chào.
+ Khi cờ lên đến đỉnh cột, 2 đội viên kéo cờ buộc dây vào cột rồi quay xuống đơn vị, đứng nghiêm. Cờ được kéo lên khi trống nổi, hết bài trống cờ lên đến đỉnh cột.
b> Lễ diễu hành
– Lễ diễu hành được tổ chức để biểu dương lực lượng, giới thiệu thành tích của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
* Đội hình diễu hành:
– Vị trí tập kết chuẩn bị diễu hành: Đi đầu là đội cờ của liên đội, cách đội cờ khoảng 2 mét là 3 đội viên đại diện Ban chỉ huy liên đội, sau Ban chỉ huy khoảng 3 mét là đội trống (đội trống có thể đứng cố định ở khu vực lễ đài, tùy thuộc vào hành trình diễu hành), sau đội trống khoảng 5 mét là cờ của chi đội, sau cờ khoảng 1 mét là 3 đội viên đại diện Ban chỉ huy chi đội, chi đội nọ cách chi đội kia khoảng 5 mét. Phụ trách đi bên cạnh phân đội trưởng phân đội 1.
– Diễn biến: Lễ diễu hành được thực hiện trước lễ khai mạc. Chỉ huy hô: “Nghiêm”!” rồi chạy đến trước lễ đài báo cá “Báo cáo anh (chị) phụ trách, các đơn vị đã sẵn sàng, xin phép lễ diễu hành được bắt đầu!”. Phụ trách đáp: “Đồng ý!”. Chỉ huy quay về đơn vị hô: “Lễ diễu hành bắt đầu!” – “Dậm chân – dậm!”, thổi kèn, đánh trống hành tiến (đội viên dậm chân theo tiếng trống). Khi đơn vị đã dậm đều, chỉ huy hô: “Đi đều – bước!”, các đơn vị hành tiến từ trái qua phải lễ đài (theo hướng lễ đài), cờ được vác lên vai. Khi bắt đầu đến lễ đài (vạch chào), cờ được giương lên, đội viên giơ tay chào. Khi đã qua lễ đài (vạch thôi chào), chuyển cờ về tư thế vác cờ, đội viên thôi chào, tiếp tục đi đều. Từng đơn vị khi qua lễ đài được giới thiệu tóm tắt thành tích, các đại biểu vỗ tay động viên. Khi vòng ở các góc sân, chú ý đảm bảo vuông góc. Khi diễu hành ở đường lớn, chú ý giữ cự li các đơn vị, đội hình nghiêm túc và đi đúng đường, tránh làm mất trật tự an toàn giao thông. Diễu hành xong, các đơn vị về vị trí tập kết.
c> Lễ duyệt Đội
– Diễn biến: Sau Lễ khai mạc, chỉ huy đến lễ đài báo cáo đại biểu có chức danh cao nhất (rõ họ tên, chức vụ): ” Báo cáo …, các đơn vị đã sẵn sàng, xin mời đại biểu đi duyệt Đội!”. Đại biểu đáp: “Đồng ý!”. Chỉ huy quay về đội hình hô: “Lễ duyệt Đội bắt đầu!” và hướng dẫn đại biểu đến trước vị trí đội cờ (đứng theo đội ngũ tĩnh tại), đại biểu giơ tay chào cờ rồi đi duyệt Đội.
+ Khi đại biểu vào vị trí duyệt Đội (trước đội hình chi đội 1, chỉ huy đi sau đại biểu khoảng 1 mét, chếch về bên phải), thổi kèn, đánh trống hành tiến, đại biểu đi từ đầu đến cuối đơn vị. Khi kèn và trống nổi, cờ của liên đội giương cao, chỉ huy chào (đến khi đại biểu đi hết đơn vị cuối cùng). Khi đại biểu đi đến đơn vị nào, chỉ huy đơn vị đó hô : “Chào !”, cờ của chi đội giương cao, đội viên giơ tay chào. Khi đại biểu đi qua, chỉ huy đơn vị đó hô : “Thôi!”, đội viên thôi chào, cờ về tư thế nghiêm. Đi hết đơn vị cuối, đại biểu lên lễ đài. Lễ duyệt Đội kết thúc.
d>Lễ kết nạp đội viên
– Sau khi đủ điều kiện kết nạp đội viên được quy định tại Điều 1, Chương I, Điều lệ Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, chi đội tổ chức Lễ kết nạp đội viên mới như sau:
– Tổ chức lễ kết nạp một cách trọng thể, gây ấn tượng giáo dục sâu sắc.
+ Địa điểm kết nạp: Phòng Đội, Phòng truyền thống, nhà bảo tàng, di tích lịch sử…
+ Thời gian: Chọn ngày lễ có ý nghĩa.
+ Thành phần tham dự: Toàn chi đội, Tổng phụ trách, phụ trách chi, đại diện chi hội cha mẹ học sinh, đại diện ban chỉ huy liên đội và đội viên được kết nạp.
+ Trang trí: Có ảnh Bác Hồ, cờ Đội.
* Diễn biến
– Chi đội trưởng hoặc phó điều khiển chào cờ, tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu, công bố danh sách đội viên được kết nạp và mời đội viên mới lên đọc lời hứa.
– Đội viên mới bước lên đối diện với cờ, nghiêm trang đọc lời hứa (Điều 2, chương I, Điều lệ Đội). Đọc xong hô : ” Xin hứa!”, toàn chi đội đứng nghiêm.
– Phụ trách chi đội đặt khăn quàng đỏ lên vai và căn dặn đội viên mới. Đội viên mới đáp: “Sẵn sàng!” và tự thắt khăn quàng đỏ, đứng nghiêm, chào cờ và quay lại chào các đại biểu và đội viên trong chi đội.
– Chi đội trưởng phân công đội viên mới về phân đội. Toàn chi đội ngồi xuống và hát tập thể bài hát “Mơ ước ngày mai” (Trần Đức). Lễ kết nạp kết thúc.
*Chú ý : Mỗi lẫn kết nạp không quá 15 đội viên. Nếu có từ 2 em trở lên thì một em đọc lời hứa xong, các em khác đồng thanh đáp một lần :”Xin hứa!”.
e> Lễ công nhận chi đội
* Điều kiện thành lập chi đội mới
– Có ít nhất 3 đội viên trở lên.
– Việc thành lập và tổ chức công nhận: Do ban chỉ huy liên đội đề nghị và Hội đồng Đội cấp xã, phường hoặc Ban Chấp hành Đoàn cùng cấp ra quyết định.
* Thành phần tham dự: Chi đội được công nhận, đại diện chi đội đỡ đầu, Ban Chỉ huy liên đội, Tổng phụ trách, phụ trách chi, đại diện Ban giám hiệu, đại diện Hội đồng Đội cấp xã, phường hoặc Ban chấp hành Đoàn cùng cấp.
* Diễn biến:
– Đại diện Ban Chỉ huy liên đội điều khiển chào cờ, tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu.
– Phụ trách Đội đọc quyết định công nhận chi đội mới.
– Phụ trách Đội gắn cấp hiệu cho Ban Chỉ huy chi đội mới.
– Tổng phụ trách trao cờ Đội cho chi đội trưởng (toàn chi đội mới đứng nghiêm). Ban Chỉ huy chi đội nhận cờ, giương cờ về phía chi đội. Đại diện Ban Chỉ huy liên đội hô: “Nghiêm ! Chào cờ – chào !”, đội viên giơ tay chào (không hát, không hô khẩu lệnh). Sau đó hô: “Thôi!”
– Đại biểu phát biểu, giao nhiệm vụ.
– Đại diện Ban Chỉ huy liên đội tuyên bố bế mạc.
g> Lễ trưởng thành Đội
– Đơn vị tổ chức là chi đội có đội viên trưởng thành.
* Thành phần tham dự: Toàn chi đội, phụ trách chi, đại diện Ban Chỉ huy liên đội, chi đoàn. Số lượng đội viên được trưởng thành không hạn chế.
* Thời gian: Chọn ngày có ý nghĩa, thời gian tổ chức ngắn gọn.
* Diễn biến:
– Chi đội phó điều khiển chào cờ, tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu.
– Chi đội trưởng công bố danh sách đề nghị của tập thể chi đội những đội viên trưởng thành.
– Phụ trách chi phát biểu, biểu dương, nhắc nhở các em tiếp tục rèn luyện, phấn đấu để sớm trở thành đoàn viên Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, đồng thời giúp đỡ chi đội trong mọi hoạt động.
– Đội viên được trưởng thành phát biểu cảm tưởng.
– Đại diện chi đoàn phát biểu.
– Trao tặng phẩm kỉ niệm (nếu có) và vui liên hoan một số tiết mục văn nghệ (có thể làm một công trình lưu niệm nhỏ).
– Bế mạc, hát bài: “Tiến lên đoàn viên ” (Phạm Tuyên)
h> Đại hội Đội
* Thời gian: Tổ chức Đại hội vào thời gian đầu năm học (với các chi đội, liên đội trong nhà trường) và đầu năm (với các chi đội, liên đội ở địa bàn dân cư). Đại hội diễn ra không quá 2 giờ.
* Địa điểm: Có thể ở Hội trường, trong lớp học, phòng truyền thống, nơi có ý nghĩa.
* Trang trí: Quốc kì, cờ Đội hoặc huy hiệu Đội, ảnh Bác Hồ hoặc tượng Bác (cờ đội có thể do đội viên cầm khi chào cờ theo nghi thức Đội).
* Nội dung và chương trình Đại hội:
– Tập hợp chi đội – kiểm tra số lượng, tư thế, trang phục của đội viên.
– Khai mạc Đại hội
+ Chào cờ (theo nghi thức Đội)
+ Tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu, công bố số lượng đội viện dự Đại hội.
+ Bầu chủ tịch đoàn (3-5 đội viên), chủ tịch đoàn giới thiệu thư kí Đại hội (1-2 đội viên). Ban Chỉ huy chi đội có thể dự kiến chủ tịch đoàn để Đại hội biểu quyết.
+ Chủ tịch đoàn lên làm việc, công bố chương trình và nội dung Đại hội.
+ Đọc báo cáo tổng kết công tác của chi đội trong nhiệm kì qua và dự thảo chương trình công tác nhiệm kì mới (Đối với chi đội mới thành lập chỉ trình bày dự thảo chương trình công tác nhiệm kì tới).
+ Phụ trách chi đội (hoặc đại diện phát biểu) phát biểu ý kiến.
+ Tiến hành thảo luận và biểu quyết những đánh giá trong báo cáo tổng kết và những chỉ tiêu cụ thể trong dự thảo đề án công tác nhiệm kì mới.
+ Biểu quyết thông qua báo cáo và chương trình hành động của chi đội…
+ Bầu Ban Chỉ huy chi đội và bầu đại biểu đi dự Đại hội liên đội:
+ Chủ tịch đoàn công bố Ban Chỉ huy chi đội cũ hết nhiệm kì, nêu tiêu chuẩn, cơ cấu và số lượng được bầu vào ban Chỉ huy mới.
+ Biểu quyết thống nhất số lượng bầu Ban chỉ huy đội (từ 3 – 7 đội viên).
+ Ứng cử đội viên nào trong danh sách ứng cử và đề cử xin rút tên thì nêu rõ lí do, chủ tịch đoàn sẽ hội ý và quyết định có cho đội viên đó rút tên hay không.
+ Biểu quyết chốt danh sách bầu cử.
+ Biểu quyết chọn hình thức bầu cử (có thể là giơ tay hoặc bỏ phiếu kín).
+ Nếu Đại hội quyết định bầu cử bằng hình thức bỏ phiếu kín thì bầu Ban kiểm phiếu.
+ Thống nhất số lượng, danh sách và bầu Ban kiểm phiếu (bằng hình thức giơ tay).
+ Ban kiểm phiếu làm việc:
Ban kiểm phiếu công bố nguyên tắc, thể lệ bầu cử, kiểm tra phiếu, phát phiếu bầu cử, kiểm tra hòm phiếu, hướng dẫn bỏ phiếu và tiến hành bỏ phiếu (phiếu hợp lệ là phiếu bầu đúng tên người trong danh sách bầu cử, không thừa so với số lượng quy định, không để phiếu trắng. Người trúng cử phải được trên 1/2 tổng số phiếu bầu hợp lệ và theo thứ tự từ cao xuống (có thể bầu trực tiếp chi đội trưởng và các chi đội phó).
– Đại hội giải lao và sinh hoạt văn nghệ (khi Ban kiểm phiếu làm việc).
– Ban kiểm phiếu làm việc ngay và công bố kết quả bầu cử trước Đại hội.
+ Nếu bầu lần 1 chưa đủ số lượng, Đại hội tiến hành bầu cử lần 2 trong số những đội viên không trúng cử ở lần 1. Nếu bầu lần 2 vẫn chưa đủ thì đoàn chủ tịch xin ý kiến Đại hội để bầu tiếp hoặc sẽ bầu bổ sung trong các kì họp sau.
+ Nếu bầu bằng hình thức giơ tay biểu quyết thì chủ tịch đoàn điều khiển, đội viên giơ tay biểu quyết từng người một theo thứ tự:
+ Đồng ý
+ Không đồng ý.
Thư kí đếm số lượng, ghi biên bản và công bố kết quả.
+ Ban Chỉ huy chi đội mới ra mắt Đại hội, đại diện Hội đồng Đội xã, phường, Tổng phụ trách hoặc phụ trách chi đội công nhận Ban Chỉ huy chi đội mới và giao nhiệm vụ.
+ Đại diện Ban Chỉ huy chi đội mới phát biểu nhận nhiệm vụ.
+ Nếu phải bầu đại biểu đi dự Đại hội liên đội thì bầu tiếp như trình tự bầu Ban Chỉ huy Đội.
+ Thư kí trình bày dự thảo nghị quyết Đại hội: Đại hội biểu quyết thông qua nghị quyết.
– Tổng kết Đại hội. Chủ tịch đoàn đánh giá kết quả Đại hội, cảm ơn các đại biểu và tuyên bố bế mạc.
– Chào cờ bế mạc.
– Đối với liên đội : Đại hội liên đội tiến hành khi các chi đội đã tổ chức xong Đại hội. Đại hội toàn thể đội viên hoặc Đại hội đại biểu do Ban Chỉ huy liên đội quyết định. Thời gian Đại hội không quá một buổi. Đại hội báo cáo kết quả công tác của liên đội nhiệm kì qua, thông qua chương trình hành động nhiệm kì tới và bầu Ban Chỉ huy mới.
*Nội dung và chương trình đại hội
– Lễ khai mạc Đại hội:
+ Chào cờ theo nghi thức Đội (có sinh hoạt truyền thống).
+ Tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu mời, số lượng đại biểu chính thức dự Đại hội và khai mạc Đại hội.
+ Bầu đoàn chủ tịch (từ 5 đến 7 đội viên) và đoàn chủ tịch giới thiệu thư kí của Đại hội (2 đội viên)
+ Đoàn chủ tịch Đại hội lên làm việc, công bố chương trình và nội dung làm việc của Đại hội.
+ Đoàn chủ tịch trình bày dự thảo báo cáo kết quả công tác của nhiệm kí qua và chương trình hoạt động của liên đội trong nhiệm kì mới.
+ Đại diện Hội đồng Đội và cấp uỷ Đảng (Ban giám hiệu) phát biểu ý kiến.
+ Các đại biểu dự Đại hội thảo luận.
+ Biểu quyết thông qua báo cáo và chương trình hành động của liên đội.
+ Bầu ban chỉ huy liên đội mới:
– Đoàn chủ tịch công bố Ban Chỉ huy cũ hết nhiệm kì, nêu tiêu chuẩn, cơ cấu và số lượng được bầu vào Ban Chỉ huy mới.
– Thảo luận và quyết định cơ cấu, số lượng Ban chỉ huy mới.
– Ứng cử, đề cử:
Nếu đội viên nào trong danh sách ứng cử và đề cử xin rút tên thì nêu rõ lí do, đoàn chủ tịch sẽ hội ý và quyết định có cho đội viên đó rút tên hay không.
+ Biểu quyết chốt danh sách bầu cử.
+ Thống nhất số lượng, danh sách và bầu Ban kiểm phiếu (bằng hình thức giơ tay).
+ Ban kiểm phiếu làm việc: Ban kiểm phiếu công bố nguyên tắc, thể lệ bầu cử, kiểm tra hòm phiếu, phát phiếu bầu cử, hướng dẫn bỏ phiếu và tiến hành bỏ phiếu (phiếu hợp lệ là phiếu bầu đúng tên người trong danh sách bầu cử, không thừa so với số lượng quy định, không để phiếu trắng. Người trúng cử phải được trên 1/2 tổng số phiếu bầu hợp lệ và theo thứ tự từ cao xuống (có thể bầu trực tiếp chi đội trưởng và các chi đội phó).
+ Đại hội giải lao và sinh hoạt văn nghệ (khi Ban kiểm phiếu làm việc).
+ Ban kiểm phiếu làm việc ngay và công bố kết quả bầu cử trước Đại hội. + Nếu bầu lần 1 chưa đủ số lượng, Đại hội tiến hành bầu cử lần 2 trong số những đội viên không trúng cử ở lần 1. Nếu bầu lần 2 vẫn chưa đủ thì đoàn chủ tịch xin ý kiến Đại hội để bầu tiếp hoặc sẽ bầu bổ sung trong các kì họp sau.
+ Ban Chỉ huy liên đội mới ra mắt Đại hội.
+ Tổng phụ trách công nhận và giao nhiệm vụ cho Ban Chỉ huy mới…
+ Đại diện Ban Chỉ huy liên đội phát biểu nhận nhiệm vụ.
+ Thư kí trình bày dự thảo nghị quyết Đại hội.
+ Đại hội biểu quyết thông qua nghị quyết Đại hội.
+ Đoàn chủ tịch đánh giá kết quả Đại hội, cảm ơn các đại biểu, tuyên bố bế mạc.
+ Chào cờ, bế mạc.
10. Một số bài hát truyền thống, biểu trưng của Đội
10.1. Cờ Đội
– Nền đỏ.
– Hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba (2/3) chiều dài.
– Ở chính giữa có hình huy hiệu Đội.
– Đường kính huy hiệu bằng hai phần năm (2/5) chiều rộng cờ.
– Điều lệ chỉ quy định chung để thống nhất trong tổ chức của mình. Trong điều kiện hiện nay các cơ sở và tập thể Đội sử dụng cờ theo đúng quy định trên. Không gọi là cờ chi đội, cờ liên đội mà gọi là cờ Đội. Các liên đội có cờ truyền thống của mình may đúng quy định của Điều lệ Đội và có thể ghi tên liên đội ở trong cờ, dưới huy hiệu măng non và có tua vàng ở ba cạnh.
10. 2. Huy hiệu Đội
– Huy hiệu Đội TNTP Hồ Chí Minh hình tròn, ở trong có hình măng non trên nền cờ đỏ sao vàng. Ở dưới có băng chữ “Sẵn sàng”.
10. 3. Khăn quàng đỏ
– Khăn quàng đỏ bằng vải màu đỏ, hình tam giác cân, may theo tỉ lệ quy định: Chiều cao bằng một phần tư (1/4) cạnh đáy.
– Đội viên và phụ trách quàng khi sinh hoạt Đội và tham gia các hoạt động của Đội.
– Khăn quàng đội viên có kích thước tối thiểu:
+ Chiều ca 0.25 m.
+ Cạnh đáy: 1m.
– Khăn quàng phụ trách có kích thước tối thiểu:
+ Chiều ca 0.3m.
+ Cạnh đáy: 1.2m.
– Trường hợp đặc biệt, đội viên chưa có khăn quàng đỏ thì nhất thiết phải đeo huy hiệu Đội.
10. 4. Đội ca
– Cùng nhau ta đi lên.
– Nhạc và lời: Phong Nhã.
10. 5. Cấp hiệu chỉ huy Đội
– Cấp hiệu chỉ huy Đội hình chữ nhật đứng, khổ 5cm x 6cm, hai góc ở dưới tròn, nền màu trắng, ở trong có sao đỏ và vạch đỏ. Mỗi sao đỏ có đường kính 0.8cm, mỗi vạch đỏ có kích thước 0.5cm x 4cm.
– Phân biệt các cấp chỉ huy Đội bằng số lượng sao và vạch được quy định như sau:
+ Phân đội trưởng: Hai sao một vạch.
+ Phân đội phó: Một sao một vạch.
+ Chi đội trưởng: Hai sao hai vạch.
+ Chi đội phó: Một sao hai vạch.
+ Uỷ viên ban chỉ huy chi đội: Hai vạch.
+ Liên đội trưởng: Hai sao ba vạch.
+ Liên đội phó: Một sao ba vạch.
+ Uỷ viên ban chỉ huy liên đội: Ba vạch.
]]>
PHẦN MỞ ĐẦU
Đội Thiếu niên tiền phong (TNTP) Hồ Chí Minh là tổ chức của thiếu nhi Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, Đoàn Thanh niên Cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh phụ trách.
Đội là lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, là lực lượng dự bị của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Lực lượng nòng cốt trong các phong trào thiếu nhi. Đội hoạt động trong nhà trường và địa bàn dân cư.
Đội lấy 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng làm mục tiêu phấn đấu, rèn luyện cho đội viên, giúp đỡ thiếu nhi trong học tập, hoạt động, vui chơi, thực hiện quyền và bổn phận theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Đội TNTP Hồ Chí Minh đoàn kết, hợp tác với các tổ chức, phong trào thiếu nhi ở khu vực và thế giới, vì quyền lợi của trẻ em, vì hòa bình, hạnh phúc của các dân tộc.
Đội TNTP Hồ Chí Minh thành lập ngày 15/5/1941.
CÁC BIỂU TRƯNG CỦA ĐỘI
Cờ Đội : 
– Nền đỏ.
– Hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba (2/3) chiều dài.
– Ở giữa có hình huy hiệu Đội.
– Đường kính huy hiệu bằng hai phần năm (2/5) chiều rộng cờ.
ĐỘI CA :
Cùng nhau ta đi lên
Nhạc và lời: PHONG NHÃ
Cùng nhau ta đi lên theo bước Đoàn thanh niên đi lên, cố gắng, xứng đáng cháu ngoan Bác Hồ. Lời thề ta ghi sâu mãi mãi trong tim không phai. Quyết xứng danh thiếu niên anh dũng nước nhà. Tiến quyết tiến hướng quốc kỳ thắm tươi anh em ta yêu tổ quốc suốt đời. Cùng yêu nhân dân, yêu chuộng lao động tăng gia, thi đua học hành ngày một tiến xa.
Huy hiệu Đội :

Hình tròn, ở trong có hình Măng non trên nền cờ đỏ sao vàng, ở dưới có băng chữ “Sẵn sàng”.
Khẩu hiệu Đội :
“Vì tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Vì lý tưởng của Bác Hồ vĩ đại : Sẵn sàng!”.
– Khăn quàng : bằng vải màu đỏ, hình tam giác cân có đường cao bằng một phần tư (1/4) cạnh đáy. (Đường cao 0,25 m và cạnh đáy 1 m).
PHẦN I
Chương I
ĐỘI VIÊN
Điều 1 :
Thiếu niên việt Nam từ 9 đến 14 tuổi, có những điều kiện sau đây đều được vào đội :
– Tự nguyện xin vào đội.
– Đước quá nữa số đội viên trong chi đội đồng ý.
Điều 2 :
Lời hứa đội viên :
1. Thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy.
2. Tuân theo Điều lệ Đội Thiếu Niên Tiền Phong Hồ Chí Minh.
3. Giữ gìn danh dự Đội Thiếu Niên Tiền Phong Hồ Chí Minh.
Điều 3 :
Đội viên Đội TNTP Hồ Chí Minh có quyền :
1. Yêu cầu Đội và Đoàn giúp đỡ để phát huy năng lực trong học tập, hoạt động, vui chơi, công tác xã hội.
2. Yêu cầu Đội và Đoàn bảo vệ quyền lợi của mình theo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ Đoàn, Đội.
3. Được sinh hoạt Đội và bàn bạc, quyết định mọi công việc của liên, chi đội. Được ứng cử, đề cử, bầu cử vào ban chỉ huy liên, chi đội.
Điều 4 :
Đội viên Đội TNTP Hồ Chí Minh có nhiệm vụ :
1. Thực hiện Điều lệ Đội, nghi thức Đội và chương trình rèn luyện đội viên.
2. Thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy để trở thành con ngoan, trò giỏi, Cháu ngoan Bác Hồ; phấn đấu lớn lên là công dân tốt, là đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
3. Làm gương tốt cho thiếu niên, nhi đồng noi theo, giúp đỡ thiếu niên và nhi đồng trở thành đội viên Đội TNTP Hồ Chí Minh.
Chương II
NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI TNTP HỒ CHÍ MINH
Điều 5 :
– Đội TNTP Hồ Chí Minh là một tổ chức thống nhất trong cả nước. Cấp cơ sở là liên đội và chi đội.
– Hội Đồng Đội Đội TNTP Hồ Chí Minh các cấp đại diện cho tổ chức Đội, do Ban chấp hành Đoàn cùng cấp lập ra và giúp Đoàn phụ trách Đội.
Điều 6 :
Đội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản có sự hướng dẫn của Phụ trách đội. Khi quyết định công việc của chi đội hoặc liên đội, phải được quá nữa số đội viên của chi đội, liên đội đồng ý thì Nghị quyết của Đội mới có giá trị.
Điều 7 :
– Tổ chức cơ sở của Đội được thành lập trong trường học và địa bàn dân cư.
– Trong các trường Đội, Cung, Nhà thiếu nhi và các hoạt động tập thể của Đội … được thành lập các liên đội, chi đội tạm thời để tổ chức các hoạt động theo Điều lệ, Nghi thức Đội.
Điều 8 :
– Có từ 3 đội viên trở lên thành lập một chi đội. Chi đội có nhiều đội viên được chi thành các phân đội.
– Trong các trường hoặc ở địa bàn dân cư có từ hai chi đội trở lên thì thành lập một liên đội.
Việc thành lập các chi đội, liên đội do Hội Đồng Đội hoặc cấp bộ Đoàn cùng cấp ra quyết định.
Điều 9 :
Nhiệm kỳ đại hội chi đội, liên đội là 1 năm.
– Ban chỉ huy liên đội, chi đội do đại hội liên đội, chi đội bầu. Ở các đơn vị thành lập tạm thời Ban Chỉ huy đội do Hội Đồng Đội hoặc cấp bộ Đoàn cùng cấp cử ra.
– Phân đội trưởng, phân đội phó do tập thể đội viên trong phân đội cử.
Chương III
ĐỘI TNTP HỒ CHÍ MINH VỚI NHI ĐỒNG
Điều 10 :
– Nhi đồng từ 6 đến 8 tuổi là lớp dự bị của Đội TNTP Hồ Chí Minh.
– Đội giúp đỡ nhi đồng thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy. xứng đáng là con ngoan, trò giỏi, bạn tốt và trở thành đội viên TNTP.
Điều 11 :
Liên đội, chi đội có nhiệm vụ phụ trách và phân công đội viên hướng dẫn nhi đồng sinh hoạt, học tập, vui chơi theo chương trình dự bị rèn luyện đội viên, mỗi Sao nhi đồng có số lượng tối thiểu 5 em, trong đó có 1 trưởng Sao.
Chương IV
TÀI CHÍNH CỦA ĐỘI
Điều 12 :
– Kinh phí của Đội và hoạt động thiếu nhi do Nhà nước cấp, đơn vị được sử dụng có trách nhiệm quyết toán theo qui định hiện hành.
– Quỹ Đội : Được xây dựng từ kết quả lao động, tiết kiệm; đóng góp của đội viên; do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, các cơ quan, đoàn thể xã hội, các tổ chức quốc tế và cá nhân ủng hộ.
Điều 13 :
Quỹ của liên đội và chi đội do Ban Chỉ huy liên đội, chi đội quản lý, sử dụng vào các hoạt động của Đội và báo cáo công khai trước đại hội Đội.
Chương V
KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT
Điều 14 :
Những tập thể và cá nhân có thành tích được biểu dương, khen thưởng.
Điều 15 :
Những đội viên vi phạm khuyết điểm đã được giúp đỡ nếu không sửa chữa thì phê bình, khiển trách trước liên đội, chi đội. Trường hợp đặc biệt bị xóa tên trong danh sách đội viên.
Chương VI
SỬA ĐỔI ĐIỀU LỆ ĐỘI
Điều 16 :
Điều lệ Đội do Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh quyết định.
PHẦN II
HƯỚNG DẪN
THỰC HIỆN ĐIỀU LỆ ĐỘI TNTP HỒ CHÍ MINH
Được sự ủy nhiệm của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn, Hội Đồng Đội Trung ương Đội TNTP Hồ Chí Minh ban hành bản hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đội TNTP Hồ Chí Minh để giúp các em đội viên, các anh chị Phụ trách, các tổ chức Đoàn, Hội Đồng Đội thực hiện đúng Điều lệ Đội.
Điều lệ sửa đổi được Ban Chấp hành Trung ương Đoàn thông qua tại Hội nghị lần III ngày 30/7/1998 thể hiện những quan điểm đổi mới của Đảng, của Đoàn với tư cách Đội là một lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Có phương thức giáo dục riêng của Đội, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công tác Đội và mong muốn hoạt động, học tập của đội viên, thiếu nhi nước ta hiện nay.
I. PHẦN MỞ ĐẦU.
Phần mở đầu của bản Điều lệ Đội nêu rõ tính chất, vị trí, mục tiêu và nhiệm vụ của Đội. Đồng thời, quy định các biểu trưng của Đội như : Cờ Đội, huy hiệu Đội, Đội ca và khăn quàng đỏ.
Điều lệ Đội khẳng định : “ … là tổ chức của thiếu nhi Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phụ trách”. Nội dung này khẳng định thiếu nhi Việt Nam có một tổ chức đại diện cho mình và của mình, có tính chất quần chúng và tính cách mạng, đi theo con đường của Đảng và Bác Hồ Kính yêu đã lựa chọn. Đội tập hợp thiếu nhi từ 9 đến 14 tuổi vào Đội và từ 6 đến 8 tuổi là tuổi dự bị của Đội tham gia các hoạt động mang tính giáo dục theo quan điểm của Đảng được thể hiện bằng phương thức giáo dục đặc trưng của Đội là thông qua các hoạt động, đáp ứng nhu của của đội viên và thiếu nhi.
Tính chất quần chúng và cách mạng của Đội được khẳng định từ kết quả thực tiễn của Đội đã dành được trong quá trình hoạt động và phát triển của mình. vai trò, vị trí của Đội được khẳng định : “Đội là lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, là lực lượng dự bị của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, lực lượng nòng cốt trong các phong trào thiếu nhi”.
Đội được khẳng định : “Là lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường” thể hiện vị trí và sự lớn mạnh của Đội trong quá trình hoạt động. Tạo cho đội viên được giáo dục và tự giáo dục thông qua các hoạt động tập thể mà Đội tổ chức. Phương thức và biện pháp giáo dục của Đội mang sắc thái riêng thể hiện là một lực lượng giáo dục của một tổ chức trẻ em, kết hợp với sự hướng dẫn của anh, chị phụ trách.
Đội là lực lượng dự bị của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh vừa thể hiện tính phát triển của tổ chức Đội và vừa là nhiệm vụ của Đội giúp đội viên phấn đấu trở thành đoàn viên TNCS góp phần trực tiếp vào việc đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp của Đoàn. Mục đích của Đội thể hiện rõ ràng ở khẩu hiệu Đội. Khẩu hiệu có 2 vế vừa gắn nhiệm vụ cách mạng của đất nước, vừa gắn với lý tưởng. Việc thực hiện mục tiêu của Đội được thể hiện rõ ở những nhiệm vụ của Đội và đội viên mà được cụ thể hóa phù hợp với lứa tuổi các em, với vai trò, vị trí và khả năng của tổ chức Đội. Đội phải góp phần trực tiếp vào việc giúp đội viên trở thành con ngoan, trò giỏi, đội viên tốt, người công dân tốt, người đoàn viên TNCS.
Việc khẳng định Đội là lực lượng nòng cốt trong các phong trào thiếu nhi” là thể hiện vai trò chủ động và nòng cốt của Đội trong việc tập hợp thiếu nhi vào các hoạt động, đồng thời cũng thể hiện rõ Đội là tổ chức của các em.
Điều lệ đã khẳng định : “Đội hoạt động trong nhà trường và địa bàn dân cư” là thể hiện vị trí của Đội trong xã hội, quy định phạm vị hoạt động và yêu cầu phát triển tổ chức Đội ở cả trong và ngoài nhà trường.
Mục tiêu của Đội còn được cụ thể hóa bằng nhiệm vụ của Đội và đội viên.
Nhiệm vụ thứ nhất : Các tập thể Đội và đội viên đều phải phấn đấu, rèn luyện thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy để trở thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt, công dân tốt, đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ này được cụ thể hóa bằng việc mỗi đội viên phải nghiêm chỉnh thực hiện Điều lệ Đội, Nghi thức Đội và Chương trình rèn luyện đội viên.
Nhiệm vụ thứ hai : Các tập thể Đội phải có trách nhiệm giúp đỡ đội viên phát triển mọi khả năng trong học tập, hoạt động, vui chơi … Đây là nhiệm vụ thể hiện rõ tính quần chúng của Đội. Đáp ứng các nhu cầu của đội viên trong quá trình phấn đấu học tập của mình.
Nhiệm vụ thứ ba : Việc các tập thể Đội và đội viên phải thực hiện các quyền và bổn phận của trẻ em đã được nêu ở Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Nhiệm vụ này thể hiện nghĩa vụ của người công dân nhỏ tuổi để từ đó hình thành những phẩm chất của người công dân tốt sau này. Mặt khác, khi các em thực hiện tốt các điều quy định trong luật nghĩa là các em đã từng bước trưởng thành trong quá trình phấn đấu của mình.
CÁC BIỂU TRƯNG CỦA ĐỘI
Các biểu trưng của Đội được quy định và thực hiện thống nhất trong cả nước như sau :
Cờ Đội : Điều lệ quy định thống nhất trong cờ Đội có nền màu đỏ, chiều rộng bằng 2/3 chiều dài. Huy hiệu Măng non ở giữa, không gọi là cờ liên đội, chi đội mà chỉ gọi là cờ Đội. Các liên đội có cờ truyền thống của mình phải may đúnh quy định của Điều lệ và có thể ghi tên liên đội trên cờ dưới huy hiệu Măng non và có tua vàng ở ba cạnh.
Huy hiệu Đội : Theo mẫu ở phần I các biểu trưng của Đội.
Đội ca : Bài hát “Cùng nhau ta đi lên” nhạc và lời của Phong Nhã.
Khăn quàng : Bằng vải đỏ, có tỷ lệ quy định chiều cao bằng ¼ cạnh đáy để phù hợp với đội viên nhiều lưới tuổi.
– Đối với khăn của đội viên có kích thước :
Chiều cao : 0,25m.
Cạnh đáy : 1m.
– Đối với khăn của phụ trách có kích thước :
Chiều cao : 0,3m.
Cạnh đáy : 1,2m.
Đội viên và phụ trách quàng khăn đỏ khi sinh hoạt Đội và trong các hoạt động của Đội.
Trường hợp đặc biệt, đội viên chưa có khăn quàng thì nhất thiết phải đeo huy hiệu Đội.
II. CHƯƠNG ĐỘI VIÊN.
* Các điều kiện vào Đội :
– Về tuổi : Điều lệ quy định mọi thiếu niên từ 9 đến 14 tuổi đều có quyền xin vào Đội.
– Các em thiếu niên phải tự nguyện vào Đội bằng cách tự mình trình bày nguyện vọng hoặc viết đơn xin vào Đội với chi đội và phải tìm hiểu Điều lệ Đội.
– Sau khi tiếp nhận ý kiến đề nghị hoặc nhận được đơn của thiếu nhi, chi đội họp xét và biểu quyết công khai từng người một. Người xin vào Đội phải được quá nửa số đội viên trong chi đội đồng ý thì mới được kết nạp.
– Lời hứa đội viên : là lời thề của đội viên khi vào Đội và suốt quá trình sinh hoạt và hoạt động của mình trong tổ chức Đội.
– Hứa : “Thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy”, thể hiện quyết tâm trong học tập, rèn luyện toàn diện để trở thành con ngoan, trò giỏi, đội viên tốt, xứng đáng là cháu ngoan của Bác Hồ.
– Hứa : “Tuân theo Điều lệ Đội”, là thể hiện tính kỷ luật của đội viên trong tổ chức của mình, ý thức xây dựng tổ chức vững mạnh và phát triển.
– Hứa : “Giữ gìn danh dự Đội”, là thể hiện trách nhiệm của đội viên trong việc giữ gìn, phát huy truyền thống Đội và làm đẹp phẩm chất của mỗi đội viên.
* Quyền của đội viên :
Điều lệ Đội quy định đội viên có 3 quyền cơ bản :
– Đội viên có quyền : “Yêu cầu Đội và Đoàn giúp đỡ để phát huy năng lực trong học tập, hoạt động, vui chơi, công tác xã hội”. Thể hiện của đội viên được yêu cầu tổ chức Đội với trách nhiệm là đại diện của đội viên và tổ chức Đoàn với trách nhiệm là người phụ trách tạo điều kiện cho đội viên được hoạt động và phát huy mọi khả năng để thực hiện những nhiệm vụ của Đội và nguyện vọng chính đáng của cá nhân.
– Đội viên có quyền : “Yêu cầu Đội và Đoàn bảo vệ quyền lợi của mình theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”, nghĩa là tạo cho đội viên tự khẳng định tính công dân nhỏ tuổi của mình, nhằm thực hiện tốt quyền và bổn phận của mình và được yêu cầu tổ chức Đội, Đoàn bảo vệ khi bản thân không có điều kiện thực hiện hoặc bị vi phạm những quyền và bổn phận theo luật định.
– Đội viên có quyền : “Được sinh hoạt Đội và bàn bạc, quyết định mọi công việc của liên, chi đội. Được ứng cử, đề cử, bầu cử vào Ban chỉ huy liên, cho đội”, là thể hiện tính dân chủ của Đội đối với đội viên. Đội viên được thực hiện quyền này ở những cơ sở Đội của mình sinh hoạt và được có ý kiến, kiến nghị và các sáng kiến về những công việc của Đội từ cơ sở Đội đến Hội Đồng Đội Đội TNTP Hồ Chí Minh.
* Nhiệm vụ của đội viên :
Đội viên là thành viên của tổ chức Đội, phải thực hiện các nhiệm vụ chung của Đội, trước hết phải thực hiện 3 nhiệm vụ cơ bản :
– Nhiệm vụ thứ nhất là :
“Thực hiện Điều lệ Đội, nghi thức Đội và chương trình rèn luyện đội viên”. Là thể hiện tính kỷ luật của đội viên đối với tổ chức của mình.
– Nhiệm vụ thứ hai là :
“Thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy để trở thành con ngoan, trò giỏi, Cháu ngoan Bác Hồ; phấn đấu lớn lên là công dân tốt, là đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh”. Là thể hiện việc thực thi những yêu cầu của Đội, của gia đình và nhà trường. Đây cũng là yêu cầu của sự phát triển về năng lực, phẩm chất và kết quả trong quá trình đội viên ở trong tổ chức Đội.
Năm điều Bác Hồ dạy :
1. yêu Tổ quốc, yêu đồng bào.
2. Học tập tốt, lao động tốt.
3. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt.
4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt.
5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.
– Nhiệm vụ thứ ba là :
“Làm gương tốt cho thiếu niên, nhi đồng noi theo, giúp đỡ thiếu niên và nhi đồng trở thành đội viên Đội TNTP Hồ Chí Minh”. Đây là nhiệm vụ đối với tổ chức của mình tạo cho Đội phát triển về số lượng, chất lượng. Đồng thời, cũng thể hiện tình cảm, trách nhiệm của các cá nhân đội viên trong quá trình chăm lo xây dựng lực lượng dự bị của Đội.
III. NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI TNTP HỒ CHÍ MINH.
– Hệ thống tổ chức : Đội TNTP Hồ Chí Minh là một tổ chức thống nhất trong cả nước. Cấp cơ sở của Đội được thành lập ở các trường học, ở địa bàn dân cư bao gồm : Chi đội và liên đội (Trong các chi đội có các phân đội. Trên cấp liên đội là Hội Đồng Đội do Ban Chấp hành Đoàn cùng cấp lập ra để giúp Đoàn phụ trách Đội. Hội Đồng Đội các cấp vừa có tính đại diện cho tổ chức Đội, vừa có tính chất là người phụ trách Đội. Hội Đồng Đội các cấp hoạt động theo quy chế số 177 QC/ TƯĐTN ngày 10/8/1998 của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn khóa VII.
– Tổ chức cơ sở của Đội : Phương châm quán triệt là ở đâu có thiếu nhi ở đó đều tổ chức các hoạt động, qua đó tiến hành thành lập các chi đội, liên đội theo quy định của Điều lệ Đội. Việc quy định có 3 đội viên thành lập 1 chi đội và có 2 chi đội trở lên thành lập liên đội là phù hợp yêu cầu thực tiễn, việc xây dựng Đội ở địa bàn dân cư, miền núi và vùng sâu, vùng xa, hẻo lánh.
Điều lệ không quy định đội viên chỉ được sinh hoạt ở một chi đội mà mở rộng để đội viên được sinh hoạt ở các chi đội, liên đội tạm thời, ở các Cung, Nhà thiếu nhi, Trường Đội, các hoạt động tập thể của Đội từ địa phương đến Trung ương. Khi sinh hoạt ở các chi đội, liên đội tạm thời các em đều thực hiện theo Điều lệ và Nghi thức Đội.
Các liên đội lấy tên theo trường học hoặc tên địa phương (Đối với các liên đội ở điạ bàn dân cư). Chi đội lấy tên theo lớp học, tên anh hùng liệt sỹ hoặc tên địa phương … tùy theo nguyện vọng của đa số đội viên và được liên đội thừa nhận. Phân đội lấy tên theo số thứ tự.
Việc thành lập các chi đội, liên đội đều do Hội Đồng Đội (Hoặc Đoàn thanh niên) cùng cấp ra quyết định. Ở các cơ sở không đủ điều kiện thành lập liên đội thì các chi đội sẽ chịu sự chỉ đạo và hướng dẫn của Hội Đồng Đội trực tiếp ra quyết định thành lập.
Điều lệ quy định Hội Đồng Đội lập ra tổ chức cơ sở Đội thể hiện tính tổ chức của Đội, tính độc lập tương đối của Đội và khẳng định Hội Đồng Đội vừa là người đại diện, vừa là người phụ trách Đội.
Điều lệ Đội quy định rõ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đội như sau :
· Nguyên tắc tự nguyện của Đội :
Nguyên tắc này thể hiện tính dân chủ của tổ chức Đội để đáp ứng nhu cầu và quyền được tự lựa chọn của thiếu nhi trước khi vào Đội, tự nguyện tham gia tích cực các hoạt động của Đội. Từ đó, sẽ tạo cho đội viên có trách nhiệm xây dựng tổ chức và tập thể Đội phải mở rộng các hình thức hoạt động phù hợp với nguyện vọng của đội viên và thiếu nhi.
· Nguyên tắc tự quản của Đội :
Nguyên tắc này thể hiện sự tư quản của Đội có sự hướng dẫn của phụ trách Đội, nghĩa là khẳng định tính độc lập tương đối của tổ chức Đội và Đội là của thiếu nhi.
Tự quản của Đội là thể hiện tính đặc trưng của Đội và cũng là yếu tố khẳng định tổ chức Đội là chính các em đội viên. Đồng thời, cũng thể hiện rõ khả năng làm chủ của các em. Phương châm đối với đội viên tự giáo dục là chính, nhưng cần có sự hướng dẫn của phụ trách và công tác giáo dục của Đội chủ yếu được thông qua các hoạt động. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của tổ chức Đội với tư cách là một lực lượng giáo dục.
Sự tự quản của Đội thể hiện :
– Mọi công việc của Đội ở chi đội, liên đội đều do các tập thể và đội viên bàn bạc.
– Các quyết định của liên đội, chi đội đều được thực hiện khi có quá nửa số đội viên đồng ý.
Sự phụ trách của Đoàn, Hội Đồng Đội các cấp được thể hiện ở các nội dung :
– Cấp Trung ương : Quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ, Nghi thức Đội phù hợp với đường lối quan điểm của Đảng, của Đoàn qua các nhiệm kỳ đại hội.
– Đề ra phương hướng, nhiệm vụ của tổ chức Đội trong từng thời kỳ.
– Thành lập, củng cố, kiện toàn Hội Đồng Đội để giúp Đoàn phụ trách Đội.
– Cung cấp kinh phí và các phương tiện hoạt động cho Đội.
– Phối hợp với các lực lượng xã hội chăm lo hoạt động Đội, phong trào thiếu nhi và bảo vệ các quyền lợi của đội viên, thiếu nhi theo quy định của pháp luật và Điều lệ Đoàn, Đội.
IV. CÁC CẤP CHỈ HUY ĐỘI.
Nhiệm kỳ đại hội chi đội, liên đội là 1 năm. Nhiệm kỳ của Ban Chỉ huy liên chi đội là 1 năm (12 tháng).
Ban Chỉ huy liên đội do đại hội liên đội, đại hội toàn thể hoặc đại biểu theo hình thức bỏ phiếu kính hoặc biểu quyết công khai do đại hội lựa chọn. Số lượng và thành phần Ban Chỉ huy do đại hội quyết định (Tối thiểu có 5 thành viên, tối đa không quá 21). Ban Chỉ huy Đội do đại hội chi đội bầu, số lượng do đại hội quyết định (tối thiểu 3 thành viên) đại hội chi đội cần tiến hành trước đại hội liên đội để bầu đại biểu đi dự đại hội đại biểu liên đội.
Trường hợp chưa đại hội, Ban Chỉ huy liên đội, chi đội sẽ do Hội Đồng Đội hoặc cấp bộ Đoàn trực tiếp chỉ định.
Việc phân công nhiệm vụ các thành viên của Ban Chỉ huy Đội cần chú ý đến các mặt hoạt động của Đội như : Công tác xã hội, học tập, phụ trách Sao nhi đồng, văn nghệ, thể dục thể thao, quỹ Đội … Mỗi thành viên Ban Chỉ huy chịu trách nhiệm 1 hoặc một số nhiệm vụ thích hợp.
V. ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN PHONG VÀ NHI ĐỒNG.
Nhi đồng bao gồm các em từ 6 đến 8 tuổi do chưa có ý thức thầy đủ và chưa đủ năng lực để tự quản lý một số tổ chức cho nên tập hợp để tiến hành các hoạt động thường xuyên phù hợp với nhi đồng là Sao nhi đồng. Nhi đồng là lực lượng dự bị của Đội. Bởi vậy tổ chức Đội và đội viên có nhiệm vụ dìu dắt nhi đồng, giúp đỡ các em sinh hoạt Sao cho đến tuổi thiếu niên (Từ 9 tuổi) và có đủ điều kiện để kết nạp Đội, đây là trách nhiệm và vinh dự của Đội TNTP Hồ Chí Minh, là nhiệm vụ quan trọng mà Đội ta Được Đoàn tin cậy giao phó.
· Mục tiêu, nội dung và cách tổ chức giúp đỡ nhi đồng :
Muốn giúp đỡ nhi đồng, trước hết các tổ chức Đội, các Ban Chỉ huy Đội và mỗi đội viên TNTP cần phải tìm nắm được mục tiêu và nội dung của công việc này. Điều lệ Đội quy định : “Đội giúp đỡ nhi đồng làm theo 5 điều Bác Hồ dạy, xứng đáng là con ngoan, trò giỏi, bạn tốt, và trở thành đội viên TNTP”. Điều này đòi hỏi đội viên TNTP vừa làm gương cho các em noi theo, vừa biết cách hướng dẫn cho nhi đồng biết và thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy cho thiếu nhi, chỉ cho các em biết việc nào nhi đồng nên làm, việc nào là tốt, là được, không tốt, cần phải tránh.
Mỗi liên đội, chi đội có trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn hoạt động của nhi đồng thuộc phạm vi trường mình, nơi ở của mình hoặc ở một trường kết nghĩa.
Mỗi Sao nhi đồngcó ít nhất 5 em và cử ra một em làm trưởng Sao. Sao đặt tên theo đức tính như : Sao vui, Sao thật thà, Sao chăm ngoan, Sao học tốt … Mỗi sao có một đội viên TNTP do chi độicử ra làm phụ trách Sao. Hàng tuần phụ trách Sao hướng dẫn Sao cùng sinh hoạt, vui chơi tập thể một lần. Hàng tháng hoặc vào những ngày lễ, các Sao trong cùng một lớp hoặc cùng một nơi ở cần được vui chơi, sinh hoạt chung do anh, chị phụ trách hoặc thầy, cô giáo trực tiếp hướng dẫn.
VI. TÀI CHÍNH CỦA ĐỘI.
Để tạo điều kiện cho các hoạt động của Đội và thiếu nhi ở cơ sở, đồng thời giúp đỡ cho các em tập làm quen với những hình thức giản đơn của việc quản lý, sử dụng tài chính và các phương tiện, cơ sở vật chất của đơn vị mình. Chương IV Điều lệ Đội đã quy định về tài chính của Đội để khẳng định việc làm cho thiếu nhi và hoạt động Đội. Kinh phí do Nhà nước cấp theo ngân sách hàng năm và các chương trình, dự án dành cho Đội và các hoạt động của thiếu nhi. Các cơ quan như Đoàn thanh niên, Hội Đồng Đội, Nhà thiếu nhi … được ủy nhiệm thay mặt tổ chức quản lý, sử dụng đúng theo mục đích và thực hiện các chế độ, chính sách , luật pháp quy định. Để có thêm những điều kiện phục vụ cho hoạt động rất đa dạng của các đơn vị Đội, đặc biệt là ở liên đội và chi đội cần có thêm quỹ Đội. Quỹ Đội là những khoản tiền và hiện vật thu được từ kết quả qua lao động và tiết kiệm của các em và do các cơ quan Đoàn thể, các tổ chức quốc tế, các cá nhân ủng hộ.
Ở cơ sở, Ban Chỉ huy liên đội, chi đội và Tổng phụ trách Đội chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng nguồn quỹ váo các hoạt động của Đội ở các đơn vị như mua các trang thiết bị nghi thức Đội, sách báo, phần thưởng cho cá nhân và tập thể có thành tích xuất sắc, giúp đỡ những bạn gặp khó khăn … Việc thu, chi phải có sổ, sách phải ghi chép đầy đủ và báo cáo công khai trong các đại hội chi đội, liên đội hoặc khi đội viên và các cấp có thẩm quyền yêu cầu.
Từ cấp Huyện trở lên quỹ Đội (Nếu có) do Hội Đồng Đội quản lý và sử dụng đúng theo quy định pháp luật và Điều lệ Đội.
VII. KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT TRONG TỔ CHỨC ĐỘI.
1. Khen thưởng :
Đội TNTP Hồ Chí Minh coi trọng việc nêu gương người tốt, việc tốt, lấy việc phát huy ưu điểm là chính để khắc phục những khuyết điểm của mình. Vì vậy sau mỗi đợt thi đua, một học kỳ hay một năm, các phân đội, chi đội và liên đội thảo luận, đánh giá, khẳng định những điển hình và đề nghị các hình thức biểu dương, khen thưởng.
Thông thường trong tổ chức Đội áp dụng các hình thức khen thưởng như: Biểu dương trước tập thể chi đội, liên đội, công nhận đạt danh hiệu : “Cháu ngoan Bác Hồ” đối với các nhân hoặc “Tập thể cháu ngoan Bác Hồ”, “Chi đội mạnh, liên đội mạnh”, cấp giấy chứng nhận đạt các chuyên hiệu và hoàn thành chương trình rèn luyện đội viên, đề nghị các cấp bộ Đoàn hoặc Hội Đồng Đội tặng giấy chứng nhận, giấy khen, bằng khen, tặng cờ thi đua (Theo quy định phân cấp của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn). Những cá nhân và đơn vị có thành tích thật tiêu biểu có thể đề nghị Nhà nước tặng bằng khen, huy chương, huân chương.
2. Kỷ luật :
Tập thể Đội có trách nhiệm giúp đỡ mọi thành viên của mình không ngừng tiến bộ. Trong trường hợp có những đội viên mắc khuyết điểm thì tập thể quan tâm giúp đỡ, giáo dục. Nếu đã tận tình giúp đỡ mà đội viên không sửa chữa thì tùy theo mức độ khuyết điểm mà tập thể quyết định áp dụng hình thức phê bình, khiển trách trước tập thể chi đội hay liên đội. Trường hợp đặc biệt sẽ bị xóa tên trong danh sách đội viên.
Việc khen thưởng và kỷ luật trong tổ chức Đội nhất thiết phải do các em thảo luận từ phân đội trở lên. Mọi hình thức kỷ luật đối với đội viên chỉ được áp dụng khi quá nữa số đội viên của chi đội biểu quyết tán thành và bắt đầu có hiệu lực khi Ban Chỉ huy liên đội có quyết định.
VIII. CHẤP HÀNH ĐIỀU LỆ ĐỘI.
Mọi đội viên và các tập thể Đội đều có trách nhiệm thi hành đúng Điều lệ Đội. Tổ chức Đội cũng đòi hỏi mọi thành viên trong xã hội tôn trọng Điều lệ của tổ chức mình. Trong quá trình thực hiện những quy định trong bản Điều lệ, đội viên và các tổ chức Đội nếu thấy những điểm không hợp lý cần phản ánh cho Hội Đồng Đội hoặc Ban chấp hành Đoàn cấp trên trực tiếp để báo cáo về Hội Đồng Đội Trung ương tổng hợp trình Ban chấp hành trung ương xem xét quyết định.
Chỉ có Ban chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh mới được quyết định việc bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đội trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ ý kiến chính đáng của đội viên và các tập thể Đội.
]]>
Từ khi ra đời Đảng ta rất quan tâm đến công tác giáo dục thế hệ trẻ. Ngày 26 tháng 3 năm 1931, Đảng ta đã sáng lập ra Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương và giao nhiệm vụ cho Đoàn trực tiếp phụ trách việc giáo dục thiếu niên và nhi đồng, tổ chức con em thợ thuyền, nông dân bị áp bức vào các tổ chức thích hợp với các em lúc đó như Đồng tử quân, Hồng nhi đội… tiền thân cho đội Thiếu niên tiền phong và đội nhi đồng Hồ Chí Minh hiện nay. Ngày 8.2.1941, Bác Hồ về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 5.1941, hội nghị trung ương Đảng lần thứ 8 họp và ra những nghị quyết cực kỳ quan trọng trong đó có chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh để đoàn kết toàn dân đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập tự do cho Tổ quốc.
Đúng lúc ấy, ngày 15.5.1941, Đảng ta đã ra chỉ thị cho Đoàn thành lập đội Thiếu niên Tiền Phong và Hội Nhi đồng cứu vong và tổ chức thí điểm ngay tại Pác Bó (Cao Bằng). Sự kiện này có ý nghĩa lịch sử đối với công tác thiếu niên và nhi đồng ở nước ta, vì thế ngày 15.5.1941 được coi là ngày chính thức thành lập Đội.
Hoạt động của đội thời kỳ này nhằm vào mục đích “Dự bị vào giúp đánh Tây, đánh Nhật làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập” (điều lệ Hội Nhi đồng cứu vong). Các em trong đội được tổ chức học quốc ngữ, học hát những bài ca cách mạng. Các em còn tham gia bảo vệ cán bộ cách mạng, làm liên lạc cho các đội Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.. Kim Đồng, tấm gương tiêu biểu cho thế hệ thiếu niên thời kỳ đấu cách mạng đã anh dũng hy sinh ngay bên con suối Lênin, gần hang Pác Bó của Bác Hồ, bảo vệ cán bộ thoát khỏi vòng vây của kẻ thù trong hoàn cảnh hiểm nghèo.
Sau cách mạng tháng Tám, Hội Nhi đồng cứu vong được đổi tên thành Hội Nhi đồng cứu quốc. Tháng 3.1951, Hội đổi tên thành Đội Thiếu nhi Tháng Tám. Trong giai đoạn này các em đã tham gia công tác Trần Quốc Toản, giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ neo đơn. Tiêu biểu cho thế hệ chống Pháp là Lê Văn Tám (Sài Gòn) với danh hiệu bất tử Em bé đuốc sống, Dương Văn (Hà Nội) tự tay bắn chết 3 tên Pháp và hy sinh anh dũng tại trận phục kích địch ở trận Xấu Giá (Sơn Tây), và Vừ A Dính (Lai Châu)… Các đơn vị nổi tiếng như: Đội Thiếu niên du kích Đình Bảng, Đội Thiếu niên du kích thành Huế, Đội Thiếu niên du kích Đồng Tháp Mười…
Hòa bình lập lại, tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ hai (tháng 11.1956), Đội Thiếu nhi tháng Tám được đổi tên thành Đội Thiếu niên Tiền Phong cho cả hai lứa tuổi thiếu niên và nhi đồng. Ngày 19.3.1961, Ban Bí thư trung ương Đảng lại giao cho Trung ương Đoàn tổ chức riêng lứa tuổi nhi đồng vào Đội Nhi đồng tháng Tám.
Vào dịp kỷ niệm 20 năm thành lập Đội, ngày 15.5.1961, Bác Hồ ra lời dặn 5 điều tiếng mở đầu phong trào thi đua học tập, làm kế hoạch nhỏ góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Làm theo 5 điều Bác dạy, đội viên và thiếu niên trường cấp I Hải Nhân (Thanh Hóa), trường cấp 2 Bắc Lý (Hà Nam Ninh), trường cấp 1, 2 Cẩm Bình (Nghệ Tĩnh) đã ghi vào lịch sử Đội những trang mới. Năm 1962, từ xã Liên Sơn (Tiên Sơn, Hà Bắc) đã khởi phát phong trào thiếu niên làm nghìn việc tốt.
Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, thiếu niên hai miền Nam Bắc đã biểu lộ tinh thần yêu nước nồng nàn cùng cha anh đánh giặc. Truyền thống anh hùng của Kim Đồng, Lê Văn Tám được tiếp tục phát huy với tên tuổi của Đoàn Văn Luyện, Kơ-pa-kơ-lơng… (miền Nam), của Nguyễn Bá Ngọc, Nguyễn Đỗ Hùng (miền Bắc). Các em đã góp phần xứng đáng vào công việc sản xuất, bảo vệ trị an, nêu lên nhiều tấm gương học tốt và tham gia tích cực công tác Trần Quốc Toản. Thiếu niên Việt Nam đã làm tròn trách nhiệm Đảng giao.
Vâng lời bác dạy
Làm nghìn việc tốt
Chống Mỹ cứu nước
Thiếu niên sẵn sàng
Sau khi Bác Hồ mất, ngày 30.1.1970 thể theo nguyện vọng của thiếu niên và nhi đồng cả nước, Ban chấp hành trung ương Đảng đã quyết định cho Đoàn và Đội mang tên Bác. Từ đó đến nay Đội có tên:
Đội Thiếu niên Tiền Phong Hồ Chí Minh
Đội Nhi đồng Hồ Chí Minh
Từ tổ chức 8 thiếu niên đầu tiên trong đó có Lý Tự Trọng do Bác Hồ tổ chức khi Người về Quảng Châu (Trung Quốc) nhen nhúm ngọn lửa cách mạng, ngày nay Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và Đội Nhi đồng Hồ Chí Minh đã có hàng triệu đội viên vai mang khăn quàng đỏ thắm, tiêu biểu cho thế hệ măng non đất nước, niềm tin và hy vọng của Tổ quốc Việt Nam.
Ngày truyền thống của Đội-15.5-mãi mãi là ngày hội của thiếu niên nhi đồng Việt Nam lớp này đến lớp khác thể hiện niềm tự hào về Đảng tiên phong, về Dân tộc anh hùng, phấn đấu đạt danh hiệu quen thuộc mà cao quý cháu ngoan Bác Hồ, xứng đáng là người kế tục tương lai sự nghiệp cách mạng của Bác Hồ muôn vàn kính yêu.
]]>